menu search
Đóng menu
Đóng

Quý 1/2019, Philippines tăng mạnh nhập khẩu gạo từ Việt Nam

07:15 12/04/2019

Vinanet -Gạo là mặt hàng chủ lực của Việt Nam xuất sang Philippines trong quý đầu năm nay, chiếm 22,1% trong tổng kim ngạch.
Philippines hiện là đối tác thương mại đứng thứ 5 của Việt Nam trong khối ASEAN, sau Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Singapore. Và cũng là một trong những thị trường xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam những năm gần đây.
Trong những năm qua, thương mại Việt Nam - Philippines đã có những bước phát triển mạnh mẽ với kim ngạch thương mại hai chiều năm 2018 đạt trên 4,7 tỷ USD, tăng trên 18% so với năm 2017. Trong đó, xuất khẩu đạt 3,46 tỷ USD, tăng 22,21% so với năm 2017; riêng tháng 12/2018 kim ngạch xuất sang Philippines đạt 324,28 triệu USD, tăng 0,28% so với tháng 11/2018 và tăng 37,01% so với tháng 12/2017.
Sang năm 2019, cụ thể là quý 1/2019 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Philippines đạt 976,36 triệu USD, tăng 30,7% so với cùng kỳ 2018, riêng tháng 3/2019 kim ngạch xuất sang thị trường này đạt 392,37 triệu USD, tăng 88,84% so với tháng 2/2019 và tăng 54,34% so với tháng 3/2018.
Trong rổ hàng hóa Việt Nam xuất sang Philippines thời gian này thì gạo là mặt hàng chủ lực, chiếm 22,1% tỷ trọng đạt 215,83 triệu USD, tương ứng với 549,4 nghìn tấn, tăng gấp 3,2 lần (tức tăng 210,25%) về lượng và gấp 2,2 lần (tức tăng 172,47%) trị giá so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất bình quân 392,84 USD/tấn, giảm 12,18%.
Tính riêng tháng 3/2019 Philippines cũng đã nhập từ Việt Nam 234,5 nghìn tấn gạo với trị giá 90,5 triệu USD, tăng gấp 2,2 lần về lượng (tức tăng 154,83%) và tăng gấp 2,2 lần trị giá (tức tăng 164,57%) so với tháng 2/2019, giá xuất bình quân 385,81 USD/tấn, tăng 3,82%. Nếu so sánh với tháng 3/2018 thì tăng đột biến gấp 65,21 lần về lượng (tức tăng 6412,55%) và gấp 62,45 lần về trị giá (tức tăng 6145,92%), giá bình quân giảm 4,09%.
Không chỉ là mặt hàng chủ lực, dẫn đầu về kim ngạch mà gạo cũng là một trong những mặt hàng mà Philippines tăng mạnh nhập khẩu từ Việt Nam trong quý đầu năm nay.
Đứng thứ hai về kim ngạch sau gạo là mặt hàng clanhke và xi măng với lượng xuất trên 2 triệu tấn, trị giá thu về 102 triệu USD, tăng 24,42% về lượng và 44,35% trị giá so với cùng kỳ. Giá xuất bình quân 50,36 USD/tấn, tăng 16,03%. Riêng tháng 3/2019, Việt Nam cũng đã xuất sang Philippines 766,1 nghìn tấn clanke và xi măng, trị giá 38,62 triệu USD, giá xuất bình quân 50,41 USD/tấn, so với cùng kỳ tăng 78,93% về lượng, 75,84% trị giá và giá bình quân giảm 1,73%. Nếu so với tháng 3/2018 thì đều tăng cả lượng, trị giá và giá bình quân tăng tương ứng 34,3%; 54,03% và 14,7%.
Kế đến là các mặt hàng điện thoại, máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng… Nhìn chung, quý 1/2019 kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sang Philippines hầu hết đều tăng trưởng, số mặt hàng này chiếm 62,5%. Ngoài mặt hàng gạo có mức tăng trưởng vượt trội, thì một số nhóm hàng khác cũng có tốc độ tăng mạnh như: sắt thép tăng gấp 2,2 lần về lượng (tương ứng 172,37%) và gấp 2,1 lần về trị giá (tương ứng 120,98%), với lượng xuất đạt 88,6 nghìn tấn, trị giá 42,9 triệu USD; kim loại thường, sản phẩm và máy ảnh, máy quay phim và linh kiện đều tăng tăng gấp 2,1 lần (tương ứng 135,82% và 135,87%) đạt lần lượt 15,2 triệu USD và 7,84 triệu USD.
Ở chiều ngược lại, trong quý 1/2019 Philippines lại giảm mạnh nhập khẩu phân bón từ Việt Nam, giảm 96,29% về lượng và 96,23% trị giá, chỉ với 633 tấn, trị giá 201,6 nghìn USD, mặc dù giá xuất bình quân tăng 1,64% so với cùng kỳ đạt 318,49 USD/tấn.
Thống kê hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Philippine quý 1/2019

Mặt hàng

Quý 1/2019

+/- so với quý 1/2018 (%)*

Lượng (Tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Tổng

 

976.360.177

 

30,7

Gạo

549.433

215.839.305

210,25

172,47

Clanhke và xi măng

2.027.051

102.073.135

24,42

44,35

Điện thoại các loại và linh kiện

 

93.587.247

 

-28,78

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác

 

79.753.338

 

1,09

Cà phê

22.234

49.736.088

4,58

21,87

Sắt thép các loại

88.636

42.996.117

172,37

120,98

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

 

39.190.157

 

-3,96

Hàng thủy sản

 

28.679.926

 

33,76

Hàng dệt, may

 

22.009.597

 

27,01

Sản phẩm hóa chất

 

17.817.311

 

13,15

Kim loại thường khác và sản phẩm

 

15.269.624

 

135,82

Giày dép các loại

 

14.818.797

 

19,32

Sản phẩm từ chất dẻo

 

13.109.291

 

7,46

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

 

12.057.760

 

43,34

Phương tiện vận tải và phụ tùng

 

10.992.014

 

-8,45

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện

 

7.847.604

 

135,87

Hóa chất

 

7.702.041

 

34,26

Dây điện và dây cáp điện

 

7.144.305

 

-0,66

Xơ, sợi dệt các loại

3.008

6.958.674

52,38

58,4

Sản phẩm từ sắt thép

 

6.802.108

 

46,92

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

 

5.315.908

 

-10,84

Chất dẻo nguyên liệu

4.294

5.099.347

28,49

10,45

Sắn và các sản phẩm từ sắn

10.495

4.484.803

-19,36

-16,59

Thức ăn gia súc và nguyên liệu

 

4.262.933

 

31,32

Hạt tiêu

1.724

3.852.550

59,19

17,62

Sản phẩm gốm, sứ

 

3.664.852

 

-6,92

Giấy và các sản phẩm từ giấy

 

2.897.432

 

-63,18

Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh

 

2.528.499

 

-22,94

Hạt điều

250

2.000.739

-20,13

-36,07

Chè

236

607.076

3,51

1,93

Phân bón các loại

633

201.603

-96,29

-96,23

Sản phẩm nội thất từ chất liệu khác gỗ

 

122.837

 

-27,43

(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)