menu search
Đóng menu
Đóng

Xuất khẩu hàng dệt may 4 tháng đầu năm: Triển vọng từ CPTPP

08:27 30/05/2019

Vinanet - Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 4 tháng đầu năm 2019 xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam tăng 10,9% so với cùng kỳ năm 2018, đạt 9,46 tỷ USD, chiếm 14,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại của cả nước.
Riêng tháng 4/2019 giảm 7,5% so với tháng liền kề trước đó, nhưng tăng 10,7% so với tháng 4/2018, đạt 2,34 tỷ USD.
Hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Mỹ chiếm 46,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt 4,42 tỷ USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ.
Nhật Bản đứng thứ 2 về kim ngạch, đạt 1,16 tỷ USD, chiếm 12,3% trong tổng kim ngạch, tăng 4,5% so với cùng kỳ. Tiếp đến thị trường EU đạt 1,14 tỷ USD, tăng 5%, chiếm 12%.
Hàng dệt may xuất sang thị trường Hàn Quốc đạt 982,62 triệu USD, tăng 7,2%, chiếm 10,4%.
Thị trường Đông Nam Á chiếm 4,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may củaViệt Nam, đạt 435,35 triệu USD, tăng 45% so với 4 tháng đầu năm 2018.
Hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Canada mới chỉ chiếm 2% trong tổng kim ngạch, đạt 202,93 triệu USD, nhưng tăng trưởng tốt 22,3% so với cùng kỳ, từ ngày 8/3/2019 Thông tư hướng dẫn về CPTPP của Bộ Công thương có hiệu lực, đã có trên 400 bộ chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) được cấp cho hàng xuất khẩu sang thị trường Canada, đáng lưu ý là trong đó phần lớn là hàng dệt may bởi đây là mặt hàng được giảm thuế ngay sau khi CPTPP có hiệu lực.
Hiện nay mặt hàng dệt may đang tận dụng rất tốt quy tắc xuất xứ khi xuất khẩu sang Canada để hưởng ưu đãi thuế từ CPTPP. Theo cam kết trong CPTPP, nếu đáp ứng được các yêu cầu về xuất xứ, mặt hàng dệt may cũng được giảm thuế từ 17-18% xuống còn 0%.
Theo nhận định của Hiệp hội Dệt may Việt Nam, dệt may là ngành hàng có nhiều cơ hội lớn từ CPTPP, với nhiều thị trường có tiềm năng lớn như Australia, Canada....
Thời gian vừa qua, để đáp ứng yêu cầu từ sợi trở đi (từ công đoạn kéo sợi, dệt, nhuộm vải) đều có xuất xứ trong khu vực CPTPP các doanh nghiệp đã có nhiều giải pháp tìm kiếm nguồn nguyên phụ liệu ở trong nước và trong khối CPTPP để hưởng ưu đãi thuế quan, thông qua đó gia tăng xuất khẩu.
Nhìn chung trong 4 tháng đầu năm nay xuất khẩu hàng dệt may sang đa số các thị trường tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm trước; trong đó đặc biệt chú ý là thị trường Ghana mặc dù chỉ đạt 3,69 triệu USD nhưng so với cùng kỳ tăng mạnh gấp 48,4 lần; Ngoài ra xuất khẩu còn tăng mạnh ở các thị trường như: Nigeria tăng 405,2%, đạt 12,8 triệu USD; Angola tăng 184,6%, đạt 11,5 triệu USD; Nga tăng 84,4%, đạt 65,06 triệu USD; Lào tăng 73,8%, đạt 2,58 triệu USD.

Xuất khẩu hàng dệt may 4 tháng đầu năm 2019

ĐVT: USD

Thị trường

T4/2019

+/- so tháng T3/2019 (%)

4T/2019

+/- so cùng kỳ năm trước (%)

Tổng kim ngạch XK

2.343.196.511

-7,52

9.461.322.193

10,89

Mỹ

1.099.630.447

-7,36

4.421.219.075

8,76

Nhật Bản

265.410.812

-17,17

1.162.481.130

4,53

Hàn Quốc

223.418.611

-22,18

982.617.965

7,18

Trung Quốc đại lục

102.125.291

-6,37

413.717.683

18,87

Anh

49.830.443

-14,74

221.255.868

2,72

Đức

53.538.993

-2,43

209.302.878

-3,78

Canada

57.139.948

11,92

202.933.049

22,26

Hà Lan

50.678.372

20,97

179.603.807

12,14

Campuchia

41.343.827

-19,7

178.796.915

59,36

Pháp

37.326.424

-2,8

154.283.910

3,78

Tây Ban Nha

25.974.647

-8,25

117.424.141

1,27

Bỉ

27.703.143

31,11

89.943.813

31,73

Indonesia

21.529.373

-8,89

87.127.706

64,72

Italia

32.939.136

86,05

84.987.737

26,47

Hồng Kông (TQ)

22.829.939

3,45

82.813.154

32,55

Đài Loan (TQ)

16.954.198

-22,59

79.924.455

27,84

Australia

17.928.734

-18,68

78.539.889

24,31

Nga

25.251.065

61,36

65.056.694

84,38

Thái Lan

15.229.336

-10,19

62.553.800

53,2

Chile

16.989.825

95,76

48.417.741

54,97

Malaysia

9.304.251

0,04

33.965.777

14,55

Mexico

10.067.093

29,52

32.693.282

25,87

Philippines

9.463.395

20,78

31.465.838

24,45

Singapore

8.487.328

15,29

28.886.292

-6,3

Bangladesh

5.658.206

-30,32

27.568.352

66,92

Ấn Độ

7.360.571

26,5

23.976.172

62,97

Thụy Điển

5.734.245

0,74

22.971.906

-4,23

U.A.E

5.914.836

-6

21.665.201

-25,04

Đan Mạch

5.210.726

1,01

21.374.136

-19,57

Brazil

4.391.391

-6,02

18.417.956

2,52

Ba Lan

3.928.041

-26,35

16.448.028

-8,94

Saudi Arabia

4.292.963

-9,56

15.381.025

-0,94

Nigeria

1.482.699

32,72

12.800.327

405,17

Angola

3.622.061

127,86

11.497.211

184,63

Myanmar

2.719.837

-13,09

9.970.266

44,26

Nam Phi

2.837.020

35,29

9.914.800

2,73

Áo

3.900.345

52,26

9.577.627

-14,7

New Zealand

2.569.591

-2,51

9.317.539

47,95

Sri Lanka

3.675.816

116,33

8.600.278

 

Thổ Nhĩ Kỳ

2.492.247

-1,87

8.202.334

-42,2

Cộng hòa Tanzania

156.991

-91,1

6.431.497

 

Achentina

1.514.075

-35,59

6.047.062

-17,83

Na Uy

1.194.365

-24,37

5.897.556

-25,1

Israel

1.335.528

77,27

5.562.786

-7,65

Panama

1.607.023

24,06

5.217.925

-4,02

Colombia

1.113.537

-1,68

3.947.176

 

Phần Lan

1.878.415

132,52

3.752.101

-12,88

Ghana

 

-100

3.686.859

4,736,11

Séc

1.546.088

314,25

3.567.257

14,25

Mozambique

70.116

 

3.446.060

 

Pê Ru

1.179.399

112,96

2.968.176

 

Thụy Sỹ

1.005.602

42,18

2.824.757

-27,29

Lào

921.234

60,1

2.578.902

73,83

Kenya

762.493

51,43

2.276.672

 

Hy Lạp

709.801

-1,6

2.070.659

-14,76

Ai Cập

594.980

116,91

2.035.048

18,79

Luxembourg

348.488

-34,07

1.459.757

 

Ukraine

741.448

634,81

1.182.368

9,01

Senegal

 

-100

878.500

 

Slovakia

134.999

-20,55

473.445

51,49

Hungary

 

 

151.568

-88,63

(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)