menu search
Đóng menu
Đóng

Xuất khẩu thủy sản 6 tháng đầu năm 2019 sụt giảm nhẹ

21:32 23/07/2019

Vinanet - 6 tháng đầu năm 2019 xuất khẩu thủy sản đạt gần 3,9 tỷ USD, giảm nhẹ 1,7% so với cùng kỳ năm 2018.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu hàng thủy sản sau khi tăng tương đối mạnh trên 20% trong tháng 5/2019 thì sang tháng 6/2019 lại sụt giảm 5,4% so với tháng 5/2019 và cũng giảm 5,4% so với cùng tháng năm 2018.
Tính chung cả 6 tháng đầu năm 2019 xuất khẩu thủy sản đạt gần 3,9 tỷ USD, giảm nhẹ 1,7% so với 6 tháng đầu năm 2018.
Nhật Bản, Mỹ, EU, Trung Quốc, Hàn Quốc, thị trường Đông Nam Á là các thị trường chủ đạo tiêu thụ thủy sản của Việt Nam; trong đó xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 680,55 triệu USD, chiếm 17,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm 2018. Xuất sang Mỹ đạt 650,15 triệu USD, tăng 2,8%, chiếm 16,7%; sang EU 597,53 triệu USD, chiếm 15,3 %, giảm 13,1%; sang Trung Quốc đạt 477,5 triệu USD, chiếm 12,2%, giảm 1%; Hàn Quốc 372,6 triệu USD, chiếm 9,6%, giảm 4,6%; xuất sang thị trường các nước Đông Nam Á đạt 303,44 triệu USD chiếm 7,9%, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 6 tháng đầu năm nay, các thị trường nổi bật về mức tăng trưởng mạnh về kim ngạch đó là: Ukraine tăng 53,2%, đạt 10,89 triệu USD; Iraq tăng 52,9%, đạt 6,44 triệu USD; Brunei tăng 29,9%, đạt 1,04 triệu USD; Mexico tăng 21,2%, đạt 62,73 triệu USD.
Ngược lại, thị trường Saudi Arabia chỉ tham gia vào thi trường xuất khẩu thủy sản trong 2 tháng đầu năm, do đó so với cùng kỳ năm trước thì giảm rất mạnh 98,8%, chỉ đạt 0,17 triệu USD; bên cạnh đó xuất khẩu sang Pakistan cũng giảm mạnh 73,4%, đạt 3,28 triệu USD; Séc giảm 32,5%, đạt 2,22 triệu USD; Hà Lan giảm 32,6%, đạt 106,3 triệu USD.
Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản cho biết, trong các tháng đầu năm 2019, nhu cầu nhập khẩu của các thị trường lớn như Nhật Bản, EU và Mỹ không có nhiều dấu hiệu tích cực. Đáng chú ý, gần đây chính phủ Mỹ đã áp thuế 25% lên các mặt hàng thủy sản từ Trung Quốc, đặc biệt là trong phân khúc các sản phẩm thủy sản chế biến có giá trị gia tăng cao vốn là thế mạnh của nước này. Tuy nhiên, đây sẽ là cơ hội cho các quốc gia khác tăng xuất khẩu thủy sản vào thị trường Mỹ.
Trong khi sản phẩm tôm từ một số công ty của Việt Nam đã được Mỹ gỡ áp thuế chống phá giá, thì sản phẩm cá tra lại bị tăng lên. Do đó, về ngắn hạn, các doanh nghiệp nên đẩy mạnh xuất khẩu tôm sang thị trường này, đồng thời, tăng cường mở rộng xuất khẩu cá tra sang các thị trường truyền thống khác như Trung Quốc, EU và ASEAN.
Về dài hạn, các cơ sở chế biến thủy sản cần nâng cấp, mở rộng hệ thống bảo quản tích trữ, các nhà máy tiệt trùng, chế biến… tương đương với chất lượng các nhà máy của Trung Quốc. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện năng lực sản xuất – một điều kiện để Bộ Thương mại Mỹ xem xét khi áp mức thuế phá giá, qua đó tăng cơ hội tiếp cận thị trường Mỹ hơn cho doanh nghiệp.

 Xuất khẩu thủy sản 6 tháng đầu năm 2019

Thị trường

T6/2019

+/- so T5/2019 (%)*

6 tháng/2019

+/- so với cùng kỳ (%)*

Tổng kim ngạch XK

722.541.434

-5,35

3.899.234.671

-1,72

Nhật Bản

127.837.620

-10,02

680.552.839

10,65

Mỹ

140.912.370

13,41

650.151.336

2,75

EU

107.816.308

-3,69

597.529.208

-13,05

Trung Quốc đại lục

101.173.924

-12,75

477.500.599

-0,96

Hàn Quốc

64.080.050

-10,55

372.600.741

-4,63

Đông Nam Á

45.051.223

-12,1

303.436.078

-2,9

Thái Lan

19.428.229

-8,72

127.166.860

-2,7

Anh

22.475.787

-10,63

124.043.826

-2,42

Hà Lan

16.474.495

-16,27

106.301.653

-32,61

Canada

18.350.373

5,97

99.582.807

2,43

Australia

17.982.473

8,55

94.202.608

8,01

Đức

15.928.658

-4,64

90.598.021

-4,24

Hồng Kông (TQ)

14.332.637

-11,23

83.028.376

-9,61

Mexico

8.260.341

8,62

62.729.219

21,18

Malaysia

7.256.890

-30,55

60.091.100

13,46

Bỉ

10.752.475

-4,14

59.955.892

-22,63

Đài Loan(TQ)

10.572.130

-15,3

58.823.564

18,38

Italia

15.355.831

68,61

56.509.860

-12,05

Philippines

7.488.535

2,07

51.653.673

-11,88

Pháp

7.379.614

-32,4

49.781.990

-7,4

Singapore

7.352.690

-14,75

48.055.374

-12,88

Nga

6.710.336

-17,04

47.713.980

6,81

Israel

6.916.644

-9,04

37.988.672

-23,61

Tây Ban Nha

5.114.333

-19,59

35.655.402

4,52

U.A.E

5.553.811

-3,09

30.244.128

-24,64

Brazil

3.705.750

34,44

29.914.719

-23,99

Bồ Đào Nha

3.909.860

-23,72

25.198.230

-13,4

Colombia

4.766.623

49,01

23.329.684

-22,93

Ai Cập

3.613.129

-20,59

22.600.997

4,77

Đan Mạch

4.968.814

62,59

20.424.775

8,91

Campuchia

3.390.941

14,29

13.846.637

14,38

Ấn Độ

2.078.151

-26,21

13.726.573

-0,41

Thụy Sỹ

1.675.035

-39,62

13.053.289

-22,74

Ba Lan

2.229.436

0,14

11.604.972

12,08

Ukraine

1.392.351

-41,72

10.891.251

53,23

New Zealand

1.024.456

-41,42

9.343.760

-6

Chile

1.479.020

44,8

8.159.843

 

Thụy Điển

1.421.153

49,47

7.040.512

-18,72

Iraq

1.294.058

-10,34

6.436.204

52,92

Algeria

1.365.610

60,82

5.318.367

 

Thổ Nhĩ Kỳ

986.629

7,76

5.276.607

8,48

Pê Ru

600.341

-57,19

5.110.222

 

Hy Lạp

686.233

-26,01

5.028.427

9,75

Na Uy

668.108

-29,96

3.698.998

 

Kuwait

409.075

-25,61

3.598.979

-17,93

Sri Lanka

574.016

-14,97

3.358.892

 

Pakistan

529.579

20,44

3.275.949

-73,4

Panama

387.854

-41,93

3.261.390

 

Romania

437.401

90,58

3.163.216

-5,49

Séc

682.218

127,12

2.222.432

-32,52

Indonesia

 

-100

1.583.689

-27,24

Brunei

133.938

-43,25

1.038.745

29,93

Angola

55.380

-77,88

694.166

 

Senegal

34.294

-62,38

571.831

 

Saudi Arabia

 

 

172.650

-98,77