menu search
Đóng menu
Đóng

Hàng hóa TG tuần tới 24/8/2019: Giá vàng tăng, cà phê giảm, dầu biến động thất thường

16:00 25/08/2019

Vinanet -Tuần qua, thị trường hàng hóa chịu tác động bởi cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung leo thang và tâm lý theo dõi động thái của ngân hàng trung ương Mỹ.
Năng lượng: Giá dầu Brent tăng, WTI giảm
Phiên cuối tuần, giá dầu thô giảm sau khi sau khi Trung Quốc công bố đáp trả Mỹ bằng việc áp thuế đối với hàng hóa trị giá khoảng 75 tỷ USD của Mỹ, trong đó bao gồm cả dầu thô.
Kết thúc phhiên này, dầu Brent giảm 58 US cent tương đương 1% xuống 59,34 USD/thùng. Giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) cũng lùi1,18 USD (khoảng 2,1%) xuống còn 54,17 USD/thùng.
Tuy nhiên tính chung cả tuần, giá dầu WTI giảm 1,3% trong khi giá dầu Brent tăng 1,2%.
Giá dầu giảm trong phiên cuối tuần sau khi Bộ thương mại Trung Quốc tuyên bố sẽ áp dụng mức thuế bổ sung 5% hoặc 10% đối với tổng số 5.078 sản phẩm có nguồn gốc từ Mỹ, trong đó có dầu thô, các sản phẩm nông nghiệp như đậu nành và máy bay cỡ nhỏ.
Ngay sau đó, trong thông báo đăng trên Twitter, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã chỉ trích quyết định mới nhất của Bắc Kinh, đồng thời khẳng định Washington sẽ có hành động mạnh mẽ. Theo Tổng thống Trump, Mỹ sẽ nâng thuế từ 25% lên 30% nhằm vào số hàng hóa trị giá 250 tỷ USD của Trung Quốc từ ngày 1/10/2019. Bên cạnh đó, Mỹ cũng sẽ nâng mức thuế từ 10% lên 15% nhằm vào số hàng hóa Trung Quốc trị giá 300 tỷ USD từ ngày 1/9/2019.
Ông Marshall Steeves, nhà phân tích thị trường năng lượng tại công ty nghiên cứu IHS Markit cho biết động thái nâng thuế quan của Trung Quốc không quá bất ngờ khi cân nhắc đến tình trạng leo thang trong cuộc chiến thương mại giữa nước này với Mỹ. Tuy nhiên, mức thuế cụ thể đối với mặt hàng dầu thô của Mỹ chắc chắn ảnh hưởng trực tiếp đến giá dầu WTI.
Còn theo ông Matt Smith, người đứng đầu mảng nghiên cứu thị trường hàng hóa tại công ty chuyên về lĩnh vực năng lượng ClipperData, sự tăng giảm nhanh chóng của giá năng lượng phản ánh mối quan hệ xấu đi giữa Mỹ và Trung Quốc cũng như tác động từ diễn biến này có thể tiếp tục ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu. Diễn biến này đã kéo dài trong những tháng qua và dẫn đến tác động tiêu cực lên thị trường. Điều bất lợi là nhiều khả năng tình trạng căng thẳng và ảnh hưởng của chúng sẽ vẫn tiếp tục trong thời gian tới.
Edward Moya, nhà phân tích thị trường cao cấp tại công ty tư vấn đầu tư OANDA cho biết rủi ro đối với triển vọng nhu cầu năng lượng là rất cao khi cuộc chiến thương mại vẫn còn tiếp tục “tăng nhiệt” và Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell đã không thể tiến hành một chiến dịch nới lỏng chính sách tiền tệ mạnh mẽ.
Trong một bài phát biểu tại một hội nghị tổ chức ở Jackson Hole, bang Utah, ông Powell đã phát đi những tín hiệu về khả năng Fed sẽ tiến hành các biện pháp kích thích cho nền kinh tế. Nhưng giới quan sát cho rằng chúng sẽ không xảy ra nhanh như dự kiến ban đầu của thị trường.
Chuyên gia Edward Monya cũng nói rằng giá dầu thô sẽ khá “chật vật” trong thời gian tới. Vì những rủi ro đáng kể đối với nền kinh tế toàn cầu và việc Mỹ chậm tiến hành những biện pháp kích có thể sẽ khiến dự báo về nhu cầu năng lượng thế giới tiếp tục giảm xuống.
Kim loại quý: Giá vàng tăng
Phiên cuối tuần, giá vàng tăng mạnh do phát biểu của chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ Jerome Powell nghiêng về lập trường chính sách tiền tệ ôn hòa và những bình luận mới nhất của Tổng thống Mỹ Donald Trump là gia tăng căng thẳng thương mại với Trung Quốc.
Cuối phiên này, vàng giao ngay tăng 1,9% lên 1.526,6 USD/ounce, trước đó cùng phiên có lúc đã lên 1.528,79 USD, cao nhất kể từ ngày 13/8/2019, khi vàng giao ngay đạt đỉnh cao nhất 6 năm tại 1.534,31 USD; vàng giao tháng 12/2019 tăng 1,9% lên 1.537,6 USD/ounce. Tính chung cả tuần, giá vàng tăng 0,9%.
Chiến lược gia thị trường cấp cao Bob Haberkorn tại công ty môi giới đầu tư RJO Futures nhận định diễn biến tăng giá mạnh trong phiên này là do nhiều người mua vàng vào với kỳ vọng lãi suất sẽ thấp hơn vào cuối năm, sau khi ông Powell nói rằng Fed sẽ có hành động phù hợp để duy trì đà mở rộng của nền kinh tế Mỹ.
Trong bài phát biểu được giới quan tâm vô cùng chú ý tại Hội nghị các thống đốc Fed tổ chức ở Jackson Hole, Wyoming vào cùng ngày 23/8/2019, Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết nền kinh tế Mỹ đang ở một “vị thế thuận lợi".
Nhưng ông đã đưa ra một vài manh mối về khả năng cắt giảm lãi suất trong cuộc họp tiếp theo. Chủ tịch Fed cũng liệt kê một loạt các rủi ro kinh tế và địa chính trị mà Fed đang theo dõi, lưu ý rằng những yếu tố này có liên quan đến những bất ổn thương mại.
Hai công cụ chính mà ngân hàng trung ương này có trong tay là chương trình nới lỏng định lượng (QE) hoặc hạ lãi suất xuống thấp hơn - cả hai công cụ này đều hỗ trợ giúp vàng đi lên.
Ông Edward Moya, nhà phân tích thị trường cao cấp tại công ty môi giới tài chính OANDA, cho rằng sẽ không có gì ngạc nhiên nếu Fed cắt giảm lãi suất đủ 1 điểm phần trăm trong 12 tháng tới và tiến hành một chương trình QE mới.
Nhất là khi tính đến một vài sự kiện vĩ mô có thể diễn biến xấu đi trong giai đoạn này, bao gồm sự không chắc chắn về thương mại, tình trạng giảm tốc tăng trưởng tại Trung Quốc và Đức, vụ “li hôn” giữa nước Anh và Liên minh châu Âu (EU), vấn đề biểu tình leo thang tại Hong Kong (Trung Quốc) và sự giải thể của Chính phủ đương nhiệm tại Italy.
Kim loại công nghiệp: Giá đồng xuống thấp nhất kể từ tháng 6/2017
Giá đồng giảm xuống mức thấp nhất trong hơn 2 năm trong phiên cuối tuần do xung đột thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ leo thang, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc chậm lại và đồng CNY suy yếu làm giảm triển vọng nhu cầu.
Đồng trên sàn giao dịch kim loại London (LME) đóng cửa giảm 0,9% xuống 5.632 USD/tấn, sau khi chạm 5.624,5 Usd/tấn, thấp nhất kể từ tháng 6/2017. Giá đã giảm gần 2% trong tuần này và hơn 20% từ mức đỉnh trong tháng 6/2018.
Đồng CNY suy yếu xuống mức thấp 11,5 năm so với đồng USD, khiến các kim loại định giá bằng USD đắt hơn cho khách hàng Trung Quốc, khả năng kéo giảm nhu cầu.
Nhập khẩu kim loại phế liệu của Trung Quốc trong tháng 7 giảm 27,5% so với tháng trước xuống 290.000 tấn, thấp nhất kể từ tháng 3.
Quặng sắt của Trung Quốc tăng hơn 3% cũng trong phiên cuối tuần sau một đợt bán tháo mạnh vài ngày trước, nhưng đã có tuần giảm thứ 5 liên tiếp trong bối cảnh bi quan về triển vọng nhu cầu đối với thành phần sản xuất thép này.
Hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 1/2020 trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên đóng cửa tăng 3,6% lên 613 CNY (86,56 USD)/tấn, sau khi tăng khoảng 4,1% trong đầu phiên giao dịch.
Tại sàn giao dịch Singapore, hợp đồng kỳ hạn tháng 9/2019 tăng 4,2% lên 86,95 USD/tấn.
Giá quặng sắt Đại Liên đã giảm hơn 20% trong tháng 8, xu hướng tháng tồi tệ nhất kể từ tháng 3/2018, sau khi có 8 tháng tăng liên tiếp do lo ngại nguồn cung hạn hẹp dịu đi trong khi nhu cầu chậm lại.
Hạn chế sản xuất thép dự kiến tiếp tục, thậm chí một số khu vực tăng cường hạn chế.
Giá quặng sắt hàm lượng 62% xuất sang Trung Quốc ổn định tại 86,5 USD/tấn trong ngày 22/8, thấp nhất kể từ 29/3.
Hợp đồng thép cây trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải tăng 0,8% lên 3.715 CNY/tấn. Thép cuộn cán nóng đóng cửa tăng 0,4% lên 3.724 CNY/tấn.
Nông sản: Giá cà phê và đường giảm
Trong phiên cuối tuần, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12/2019 giảm 1,25 US cent hay 1,3% xuống 96,05 US cent/lb. Arabica đã mất 0,3% trong tuần này, tuần giảm thứ 5 liên tiếp. Giá giảm bởi đồng real của Brazil suy yếu ở mức thấp nhất 11 tháng so với USD. Đồng real yếu khuyến khích nhà sản xuất bán các hàng hóa định giá bằng USD như cà phê và đường.
Công ty tư vấn Safras & Mercado dự kiến Brazil sản xuất 58,9 triệu bao cà phê loại 60 kg/bao trong năm nay, không xa mức kỷ lục 62 triệu bao trong năm 2018 và là sản lượng lớn nhất đối với một năm có sản lượng thấp hơn trong chu kỳ 2 năm một lần.
Cà phê robusta kỳ hạn tháng 11 giảm 13 USD hay 1% xuống 1.314 USD/tấn.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 10 giảm 0,11 US cent hay 1% xuống 11,47 US cent/lb. Tính chung cả tuần, hợp đồng này đã giảm 1,5%, giảm tuần thứ 3 liên tiếp.
Tổ chức ngành mía đường Unica cho biết các nhà máy tại khu vực trung nam Brazil đã qua một nửa chặng đường trong mùa mía đường hiện nay sau khi công bố năng suất ethanol tương tự vụ năm ngoái, bổ sung rằng có thể tiếp tục giảm xuất khẩu đường.
Một loại sâu bệnh tiếp tục lan rộng ở miền bắc Trung Quốc (nước tiêu thụ đường hàng đầu thế giới) tới 24 tỉnh và khu vực, đang phá loại cây trồng gồm cao lương, ngô và mía.
Đường trắng kỳ hạn tháng 10 giảm 1,7 USD hay 0,5% xuống 310,4 USD/tấn.
Giá cao su trên sàn giao dịch TOCOM giảm phiên thứ 4 liên tiếp trong bối cảnh lo ngại dư cung và do các nhà đầu tư đóng các hợp đồng mua vào kỳ hạn gần, dẫn tới giá giảm tuần thứ 2 liên tiếp.
Hợp đồng cao su TOCOM kỳ hạn tháng 1/2020 đóng cửa giảm 2,4 JPY hay 1,4% xuống 165,8 JPY (1,56 USD)/kg. Hợp đồng này đã mất 1,8% trong tuần.
Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 9 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải giảm 15 CNY xuống 11.385 CNY (1.608 USD)/tấn.
Dự trữ cao su tại kho của sàn giao dịch Thượng Hải tăng 1,3% so với một tuần trước.

Giá hàng hóa thế giới

ĐVT

Giá 17/8/2019

Giá 24/8/2019

Giá 24/8 so với 23/8

Giá 24/8 so với 23/8 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

54,87

54,17

-1,18

-2,13%

Dầu Brent

USD/thùng

58,64

59,34

-0,58

-0,97%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

35.800,00

35.860,00

-1.210,00

-3,26%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,20

2,15

-0,01

-0,32%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

165,68

164,28

-2,47

-1,48%

Dầu đốt

US cent/gallon

181,28

181,56

-2,57

-1,40%

Dầu khí

USD/tấn

559,50

556,00

-9,00

-1,59%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

53.920,00

54.000,00

-1.420,00

-2,56%

Vàng New York

USD/ounce

1.523,60

1.537,60

+29,10

+1,93%

Vàng TOCOM

JPY/g

5.158,00

5.164,00

+56,00

+1,10%

Bạc New York

USD/ounce

17,12

17,55

+0,38

+2,19%

Bạc TOCOM

JPY/g

58,50

59,50

+1,40

+2,41%

Bạch kim

USD/ounce

849,18

857,79

-0,49

-0,06%

Palađi

USD/ounce

1.451,42

1.462,10

-26,13

-1,76%

Đồng New York

US cent/lb

259,50

253,75

-2,80

-1,09%

Đồng LME

USD/tấn

5.744,00

5.633,00

-50,00

-0,88%

Nhôm LME

USD/tấn

1.792,00

1.770,00

+4,00

+0,23%

Kẽm LME

USD/tấn

2.261,00

2.254,00

+9,00

+0,40%

Thiếc LME

USD/tấn

16.575,00

15.880,00

-295,00

-1,82%

Ngô

US cent/bushel

380,75

367,75

-3,25

-0,88%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

477,50

477,75

+6,00

+1,27%

Lúa mạch

US cent/bushel

274,25

267,00

+0,75

+0,28%

Gạo thô

USD/cwt

11,51

11,28

+0,11

+0,94%

Đậu tương

US cent/bushel

879,75

856,50

-12,25

-1,41%

Khô đậu tương

USD/tấn

300,30

295,40

-3,90

-1,30%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,51

28,70

-0,20

-0,69%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

452,40

449,90

-3,20

-0,71%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.187,00

2.238,00

+8,00

+0,36%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

96,35

96,05

-1,25

-1,28%

Đường thô

US cent/lb

11,64

11,47

-0,11

-0,95%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

98,80

98,30

-0,90

-0,91%

Bông

US cent/lb

60,13

58,21

-0,73

-1,24%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

362,90

359,90

+0,60

+0,17%

Cao su TOCOM

JPY/kg

171,50

165,90

+0,10

+0,06%

Ethanol CME

USD/gallon

1,30

1,32

-0,02

-1,42%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters