menu search
Đóng menu
Đóng

Thị trường tôm Mỹ nửa đầu năm 2008

15:18 26/11/2008
Mỗi năm Mỹ NK khoảng 550.000 tấn tôm, và đây là thị trường NK nhiều tôm nhất thế giới. Tuy nhiên tới năm 2007, NK tôm vào Mỹ đã giảm sút đáng kể sau 10 năm tăng liên tục.
Năm ngoái Mỹ chỉ nhập 557.000 tấn tôm trị giá 3,9 tỉ USD, giảm 6% về lượng và 5% về giá trị so với năm 2006.
Đồng USD giảm giá, giá dầu tăng, tranh chấp liên quan tới thuế CBPG, sụt giảm sản lượng là nguyên nhân chính của tình trạng NK tôm vào Mỹ giảm sút.
Sự suy giảm này ảnh hưởng tới hầu hết các hạng mục, ngoại trừ một vài sản phẩm GTGT. NK tôm vỏ, bỏ đầu (236.000 tấn, tương đương 42% tổng NK) giảm 8% về lượng và giá trị so với năm 2006.
Tôm đông lạnh bóc vỏ đứng thứ hai trong danh sách các mặt hàng tôm NK vào Mỹ với 178.592 tấn, tương đương 32% tổng giá trị và tăng 10% so với năm 2006. NK các loại tôm đều giảm, đặc biệt tôm bao bột đông lạnh giảm 26%.
Thái Lan vẫn là nước xuất nhiều tôm nhất sang Mỹ với thị phần ngày càng tăng với 188.300 tấn, tương đương 1,2 tỉ USD, tuy vậy xuất khẩu tôm Thái sang Mỹ giảm 3% cả về khối lượng và giá trị. Năm 2007 là một năm khó khăn đối với ngành tôm Thái Lan vì giá bán thấp và thuế CBPPG. Quyết định của WTO có phần ưu ái với Thái Lan đã tạo điều kiện để tôm Thái vào Mỹ với mức thuế rất thấp trong năm 2008.
 
NK thuỷ sản vào Mỹ (đv: 1.000 tấn)
Năm
2002
2003
2004
2005
2006
2007
Thái Lan
111,5
133,2
132,1
160,9
193,7
188,3
Êcuađo
29,7
34,0
37,5
49,6
59,4
59,1
Inđônêxia
17,4
21,7
47,0
52,6
58,7
59,1
Trung Quốc
49,5
81,0
66,0
45,2
68,2
48,4
Mêhicô
24,3
25,5
29,0
28,1
35,4
40,6
Việt Nam
44,7
57,4
37,1
42,9
37,1
39,3
Malaixia
1,5
1,3
12,7
17,2
20,3
22,8
Ấn Độ
44,2
45,5
41,0
35,7
27,3
20,8
Bănglađét
8,5
8,1
17,4
15,8
19,4
14,9
Vênêzuêla
10,3
10,0
16,3
11,4
9,9
10,8
Guyana
9,7
11,4
8,4
8,6
7,8
8,9
Braxin
17,7
21,8
9,2
3,0
0,6
0,0
Các nước khác
56,7
53,6
63,9
57,8
52,2
43,9
Tổng
429,3
504,5
517,6
528,8
590,3
556,9
Êcuađo đứng thứ hai trong danh sách các nước xuất nhiều tôm nhất vào Mỹ trong những năm gần đây với thị phần ngày càng tăng. Ở hạng mục tôm vỏ bỏ đầu, Êcuađo đã xuất được 45.800 tấn, đặc biệt các cỡ tôm lớn.
Inđônêxia cũng xuất được nhiều tôm hơn vào Mỹ. Tôm Việt Nam tăng 6% về khối lượng, và tôm Mêhicô tăng 15% về khối lượng trong cùng kỳ.
Tôm xuất từ Trung Quốc sang Mỹ giảm 30% về giá trị do quyết định của Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm đưa ra tháng 6 năm ngoái sau khi tôm Trung Quốc bị phát hiện nhiễm hoá chất. Đa số các sản phẩm từ tôm Trung Quốc tại Mỹ là tôm đông lạnh bao bột, tuy nhiên thị phần hạng mục này cũng giảm.
Tôm Braxin hầu như đã biến mất trên thị trường Mỹ một phần do mức thuế cao, phần khác vì các nhà sản xuất ưu tiên khai thác thị trường trong nước khi đồng nội tệ ổn định tạo điều kiện cho họ kiếm được nhiều lợi nhuận.
Các nước Đông Nam Á đã đa dạng hoá nguồn cung tôm sang Mỹ với nhiều sản phẩm giá trị gia tăng hơn trước, trong khi đó các nước MỹLatinh (Êcuađo và Mêhicô) sang Mỹ chủ yếu là tôm nguyên vỏ đông lạnh. Nguồn cung tôm trong nước năm ngoái rất thấp, chỉ với 71.200 tấn (giảm 45% so với năm 2006).
Thay đổi trong xu hướng tiêu dùng tôm Mỹ
Nền kinh tế suy thoái dẫn tới sự thay đổi trong thói quen của người tiêu dùng. Theo kết quả một cuộc khảo sát của Nielsen đối với 50.000 người tiêu dùng, khoảng 2/3 số người được hỏi đã giảm chi, và khoảng một nửa ít ăn hàng hơn trước. Khoảng 1/3 người tiêu dùng chuyển sang các mặt hàng rẻ tiền hơn.
Một cuộc khảo sát khác của Unilever trên 47.000 người cho biết đa số họ giảm mua thuỷ sản và một số thực phẩm đông lạnh khác. Xu hướng này sẽ tiếp tục ảnh hưởng tới nhu cầu đối với tôm tại các nhà hàng, kênh tiêu thụ tôm chính tại Mỹ. 
 
NK tôm vào Mỹ T1-6 (đv: 1.000 tấn)
Năm
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
Thái Lan
49.8
61.4
59.1
68.6
75.3
75.3
70.7
Êcuađo
10.8
17.8
25.4
31.9
26.1
26.1
43.2
Inđônêxia
20.2
21.3
26.0
32.5
32.9
32.9
31.8
Trung Quốc
17.6
29.0
17.0
25.7
27.8
27.8
23.4
Mêhicô
21.7
21.0
14.9
15.0
12.4
12.4
15.0
Việt Nam
0.8
2.2
4.7
7.6
7.7
7.7
10.4
Malaixia
4.9
5.5
6.0
7.1
11.8
11.8
7.8
Ấn Độ
2.1
4.7
5.3
7.4
5.9
5.9
5.2
Bănglađét
6.8
5.5
5.3
4.6
5.0
5.0
5.2
Vênêzuêla
19.2
18.6
13.4
11.5
7.4
7.4
5.2
Guyana
0.9
1.7
2.4
3.0
3.6
3.6
4.1
Braxin
5.7
9.2
7.0
5.4
6.1
6.1
3.4
Các nước khác
34.1
29.4
21.1
17.6
14.1
14.1
10.6
Tổng
194.7
227.4
206.5
238.1
236.2
236.2
236.0
NK tôm vào Mỹ trong 4 tháng đầu năm đạt tổng cộng 236.000 tấn, hầu như không thay đổi về khối lượng so với cùng kỳ năm ngoái, và giá trị tăng 2,4%. Kết quả cũng cho biết giá trị tôm nhập vào Mỹ tăng 2,5% về giá trị, chủ yếu là tôm vỏ đông lạnh. Tôm từ Đông Nam Á (Thái Lan, Inđônêxia, Việt Nam và Trung Quốc chiếm 65% tổng thị phần tôm Mỹ). Êcuađo là nước xuất nhiều tôm nhất với 13,5% thị phần trong quý I năm nay, chủ yếu là tôm GTGT. Trong khi đó tôm MỹLatinh chủ yếu là tôm đông lạnh bỏ đầu.
Tôm vỏ đông lạnh vẫn là sản phẩm quan trọng nhất, chiếm 40% khối lượng và 41% giá trị, tương đương 94.000 tấn trị giá 680 triệu đôla. Êcuađo cung cấp nhiều tôm nguyên vỏ bỏ đầu nhất sang Mỹ với 26% thị phần. Tôm thịt đông lạnh chiếm 32% khối lượng và 33% giá trị trong tổng số tôm nhập vào Mỹ.
So với những số liệu của cùng kỳ năm 2007, tôm NK sang Mỹ đã tăng 3% về khối lượng và 1% về giá trị. Tôm Thái Lan chiếm 27% thị phần tôm Mỹ, sau đó là Inđônêxia với 24%. Tôm bao bột đông lạnh và các sản phẩm tôm đông lạnh khác đều tăng thị phần trong thời gian này và Trung Quốc là nước cung cấp nhiều tôm loại này nhất tại Mỹ, trong khi đó tôm bao bột từ Thái Lan tăng thị phần tại thị trường trên.  
Sau đợt rà soát hành chính lần thứ hai của Bộ Thương mại Mỹ về cắt giảm thuế CBPG đối với một vài công ty từ Thái Lan, Ấn Độ và Việt Nam, thì Tập đoàn Thực phẩm Đông lạnh Thái Lan (Thai Union Frozen Products), một trong những nhà cung cấp tôm lớn nhất thế giới được giảm thuế xuống 2,85% từ mức 15,3%, trong khi mức thuế trung bình đối với các công ty xuất khẩu tôm của Thái phải trả mức thuế 5,95%. Giảm thuế đã tạo điều kiện thuận lợi cho hàng loạt công ty khác của Thái.
Có 4 công ty Việt Nam được miễn thuế chống phá giá, 23 công ty phải trả mức thuế 4,57% và các công ty khác sẽ phải trả mức thuế 25,76%, mức thuế này quá cao và sẽ gây khó khăn cho các công ty của Việt Nam. Còn các công ty Ấn Độ nhận mức thuế 1,69%, thấp hơn nhiều so với mức 7,22% trước đó. Tuy nhiên, Ấn Độ vẫn đòi WTO loại bỏ mức ký quỹ đối với tôm từ nước này, còn Mỹ thì muốn kéo dài thời gian xem xét có loại bỏ việc ký quỹ hay không.
Sản lượng tôm nội địa của Mỹ bị ảnh hưởng nghiêm trọng vì bão, tuy nhiên đội tàu đánh cá ở đây không bị thiệt hại nghiêm trọng như đợt bị bão Katrina khiến hàng loạt xưởng chế biến phải đóng cửa và giảm giá bán. Sụt giảm nguồn cung tôm trong nước không làm tăng giá tôm như nhiều người dự kiến, vì mức giá trần đã được ấn định.
Sản lượng tôm đánh bắt tại Mỹ 6 tháng đầu năm giảm 22% so với năm 2006, chỉ đạt 26.000 tấn. Sản lượng tôm nội địa Mỹ còn tiếp tục giảm vì giá nhiên liệu tăng và giá bán thấp, về lâu dài chắc chắn số lượng tàu đánh bắt sẽ giảm so với hiện nay.

Nguồn:Vasep