Công nghiệp vật liệu giữ vai trò cung cấp đầu vào cho hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, từ xây dựng, giao thông, năng lượng, cơ khí chế tạo đến điện tử, bán dẫn, quốc phòng, an ninh và các ngành công nghệ cao. Việt Nam đã hình thành năng lực sản xuất ở nhiều lĩnh vực, song vẫn còn nặng về khai thác, chế biến ở mức thấp; nhiều loại vật liệu chất lượng cao, công nghệ cao, vật liệu đặc chủng vẫn phụ thuộc nhập khẩu.
Trong bối cảnh đó, Kết luận số 83-KL/TW ngày 8/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam xác định công nghiệp vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng, có yếu tố quyết định năng lực tự chủ chiến lược, năng lực cạnh tranh quốc gia và khả năng làm chủ các công nghệ lõi. Một trong những thay đổi quan trọng về tư duy là chuyển từ khai thác lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu, từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, từng bước làm chủ những công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Phải hình thành chuỗi từ tài nguyên đến sản phẩm cuối cùng
Theo phân tích của TS. Nguyễn Văn Hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương (Bộ Công Thương), Việt Nam đang đứng trước cơ hội tái cơ cấu mạnh mẽ ngành công nghiệp vật liệu với lợi thế đáng kể về nguồn tài nguyên khoáng sản như đất hiếm, titan, bô-xít, graphite… Đây là nền tảng quan trọng để phát triển công nghiệp vật liệu. Tuy nhiên, trong thời gian dài, việc khai thác lợi thế này chủ yếu vẫn tập trung vào khai thác, sơ chế, chưa đi sâu vào chế biến và làm chủ công nghệ.
Thực tế này thể hiện khá rõ ở nhiều ngành, cụ thể với ngành thép, Việt Nam đã sản xuất được nhiều sản phẩm thép xây dựng và thép cơ bản nhưng vẫn phải nhập khẩu nhiều sản phẩm thép hợp kim, thép chất lượng cao. Ngành hóa chất đã tự chủ được một số hóa chất cơ bản nhưng nhiều hóa chất phục vụ các ngành công nghiệp mới, công nghiệp chiến lược vẫn phụ thuộc bên ngoài. Đáng chú ý, vật liệu điện tử và nhiều loại vật liệu công nghệ cao còn phụ thuộc đáng kể vào khu vực doanh nghiệp FDI và nguồn nhập khẩu.
Theo TS. Nguyễn Văn Hội, một trong những nguyên nhân quan trọng khiến tiềm năng tài nguyên chưa chuyển hóa tương xứng thành năng lực công nghiệp nằm ở sự thiếu liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị.
 |
|
Dây chuyền đúc tại Công ty TNHH MTV Diesel Sông Công
|
Bên cạnh những hạn chế về vốn, công nghệ và quy mô sản xuất, cơ chế, chính sách trước đây chưa tạo được sự kết nối chặt chẽ từ khai thác, chế biến, chế biến sâu đến sản phẩm và thị trường. Hoạt động khai thác tài nguyên, sản xuất công nghiệp hỗ trợ và sản xuất sản phẩm cuối cùng còn có tình trạng “cắt khúc”, khiến khó hình thành một hệ sinh thái công nghiệp vật liệu hoàn chỉnh.
Từ thực tế đó, TS Nguyễn Văn Hội cho rằng cần xây dựng chính sách theo cách tiếp cận toàn chuỗi. Doanh nghiệp có năng lực công nghệ, có phương án chế biến sâu và khả năng phát triển sản phẩm cuối cùng cần được tạo điều kiện để tham gia xuyên suốt chuỗi sản xuất.
“Doanh nghiệp phải có những cơ chế, chính sách thực sự hỗ trợ đầu tư từ cả chuỗi giá trị, chuỗi sản xuất”, ông Hội nhấn mạnh. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là chế biến sâu hơn mà phải hỗ trợ doanh nghiệp làm chủ công nghệ, từ đó hình thành những chuỗi sản xuất trong nước có khả năng kết nối với chuỗi giá trị toàn cầu.
Một trong những nội dung quan trọng của Kết luận số 83-KL/TW là yêu cầu hình thành các chuỗi công nghiệp vật liệu khép kín, từ khai thác, chế biến, chế biến sâu đến sản phẩm ứng dụng cuối cùng. Trọng tâm là các lĩnh vực đất hiếm; vật liệu pin, nam châm và vật liệu từ; vật liệu điện tử, bán dẫn; nhôm, thép, titan, kim loại màu, hợp kim đặc chủng; vật liệu hóa chất, carbon và vật liệu lưỡng dụng.
Cùng với đó, công nghiệp vật liệu được định hướng phát triển đồng bộ theo ba nhóm: vật liệu cơ bản, vật liệu chiến lược và vật liệu tương lai. Đến năm 2030, nguồn lực sẽ được ưu tiên cho những lĩnh vực trọng điểm như vật liệu bán dẫn, đất hiếm, vật liệu pin và lưu trữ năng lượng, vật liệu mới, vật liệu đặc chủng và lưỡng dụng, qua đó từng bước nâng cao năng lực tự chủ và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Việt Nam đã có nền tảng tương đối rõ đối với nhóm vật liệu cơ bản như thép, cao su, hóa chất và chế biến khoáng sản. Trong khi đó, đối với vật liệu chiến lược và vật liệu tương lai, dư địa phát triển còn rất lớn nhưng đòi hỏi phải tập trung mạnh hơn cho khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, các quỹ đầu tư mạo hiểm và hệ thống hạ tầng nghiên cứu.
 |
|
Sản xuất tấm pin năng lượng mặt trời ở Công ty Ja Sola, Bắc Ninh
|
Ông cho rằng việc lựa chọn lĩnh vực ưu tiên phải dựa trên đánh giá tổng thể về lợi thế tài nguyên, năng lực doanh nghiệp, thị trường và khả năng làm chủ công nghệ. Trong đó, lợi thế tài nguyên cần được khai thác theo cách hoàn toàn khác trước đây: hạn chế khai thác, chế biến thô và tập trung vào chế biến sâu, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo để gia tăng giá trị.
Đưa doanh nghiệp thành trung tâm của đổi mới công nghệ
Một điểm nghẽn khác được TS. Nguyễn Văn Hội chỉ ra là khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa. Nhiều viện, trường thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu nhưng chưa xuất phát đầy đủ từ nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp và thị trường. Trong khi đó, doanh nghiệp có nhu cầu công nghệ lại gặp khó khăn trong tìm kiếm, tiếp nhận và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
 |
|
Sản xuất các chi tiết linh liện ô tô, xe máy tại Công ty CP Phụ tùng máy số 1 (Futu1)
|
Vì vậy, TS Nguyễn Văn Hội cho rằng, cần tạo liên kết thực chất hơn giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện - trường và địa phương. Nghiên cứu khoa học phải hướng vào nhu cầu thị trường; doanh nghiệp phải trở thành chủ thể đặt hàng, còn địa phương tạo không gian và hạ tầng để kết quả nghiên cứu được triển khai vào sản xuất.
Đặc biệt, các thủ tục và cơ chế tài chính cho khoa học - công nghệ cần thông thoáng, minh bạch hơn; đồng thời chấp nhận đặc thù rủi ro của nghiên cứu thông qua các cơ chế, quỹ đầu tư phù hợp. Viện, trường cần “nhìn vào doanh nghiệp để làm, nhìn vào thị trường để làm”, cùng doanh nghiệp phân tích, dự báo thị trường và xác định những sản phẩm, ngành hàng cần ưu tiên nghiên cứu.
Đây cũng là tinh thần của mô hình “Nhà nước kiến tạo - doanh nghiệp trung tâm - viện, trường nền tảng - địa phương là không gian thực thi” được xác định tại Kết luận số 83. Theo đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy công nghiệp vật liệu.
Để cụ thể hóa định hướng mới, Kết luận số 83 yêu cầu trong năm 2026 xây dựng Chiến lược quốc gia phát triển công nghiệp vật liệu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đến năm 2028, phấn đấu hình thành tối thiểu 3-5 trung tâm nghiên cứu vật liệu quốc gia; đến năm 2030 làm chủ một số công nghệ chế biến sâu đất hiếm, vật liệu bán dẫn, vật liệu pin và phấn đấu tỷ lệ nội địa hóa một số vật liệu chiến lược đạt 50%.
Theo TS. Nguyễn Văn Hội, chiến lược sắp tới cần tạo ra hệ thống chính sách rõ ràng, công khai, minh bạch, “dễ biết, dễ đoán, dễ thực thi”; đồng thời xác định rõ những ngành có thế mạnh, phát triển hạ tầng công nghiệp đồng bộ và hình thành các doanh nghiệp đầu đàn có tiềm lực công nghệ, khả năng hấp thụ công nghệ và nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.
Nếu phải lựa chọn một số năng lực cần tập trung đến năm 2030, ông Hội cho rằng đất hiếm là lĩnh vực cần được quan tâm bởi Việt Nam có lợi thế tài nguyên và loại vật liệu này giữ vai trò đầu vào đối với nhiều ngành công nghệ cao, năng lượng, điện tử, bán dẫn và quốc phòng. Bên cạnh đó là vật liệu phục vụ công nghiệp bán dẫn và ngành hóa chất - lĩnh vực nền tảng tham gia vào hầu hết hoạt động sản xuất của nền kinh tế.
Nguồn:Thu Hường/Báo Công thương