Hiện tại, vùng miền núi tỉnh ta có khoảng hơn 7.380 cơ sở ngành nghề và làng nghề. Trong đó nhóm nghề chế biến nông - lâm sản chiếm 51%, nhóm hoạt động thương mại và dịch vụ chiếm 28,2% và nhóm nghề TTCN - xây dựng chiếm 20,8%. Ước tính số hộ và cơ sở sản xuất ngành nghề ở nông thôn miền núi hàng năm tăng từ 10 đến 12%; tạo việc làm cho hàng ngàn lao động nông thôn. Theo báo cáo của Sở Công thương, năm 2007 giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn 11 huyện miền núi ước đạt trên 556 tỷ đồng, trong đó riêng giá trị sản xuất TTCN đạt 265 tỷ đồng; nhiều huyện có giá trị sản xuất TTCN đạt khá như: Thạch Thành hơn 58 tỷ đồng, Như Thanh hơn 57 tỷ đồng, Ngọc Lặc 36 tỷ đồng, Cẩm Thủy hơn 26 tỷ đồng, Thường Xuân hơn 18 tỷ đồng... Tuy nhiên, hiện nay sản xuất công nghiệp, TTCN trên địa bàn miền núi vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của các địa phương, các cơ sở sản xuất ngành nghề chủ yếu vẫn là hộ cá thể và các doanh nghiệp tư nhân, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp quốc doanh còn rất ít. Điều đó cho thấy khu vực các huyện miền núi trong tỉnh cần phải tập trung phát triển mạnh hơn nữa nhiều ngành nghề, làng nghề, trong đó cần quan tâm hơn đến các nghề và làng nghề truyền thống, mở thêm các ngành nghề mới phù hợp với điều kiện lao động và địa bàn nhằm tăng sản phẩm hàng hóa, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân. Mặt khác, do dân số ngày càng tăng, diện tích đất đai ngày càng thu hẹp nên việc phát triển ngành nghề, làng nghề càng trở nên thiết thực và cần được chú trọng hơn bao giờ hết.
Khảo sát thực tế tại các địa phương miền núi cho thấy, vài năm trở lại đây, một số huyện đã tích cực chuyển đổi cơ cấu kinh tế gắn sản xuất nông - lâm nghiệp với chế biến nông - lâm sản, mở mang một số ngành sản xuất mới, xây dựng và phát triển một số điểm chế biến nông - lâm sản như mía đường, tinh bột sắn, chế biến trái cây, chế biến luồng, nứa... Nhiều nơi đã duy trì và khôi phục một số nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, đan lát, rèn, mộc, làm rượu cần... Một số huyện như Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Cẩm Thủy... cùng với việc duy trì một số nghề, làng nghề truyền thống, các địa phương đã hướng tới đẩy mạnh khai thác và chế biến lâm sản như sản xuất các sản phẩm từ tre luồng, sản xuất tinh bột sắn, bột giấy, mây tre đan, sơ chế nguyên liệu... Tuy nhiên có một thực tế là phần lớn các cơ sở sản xuất vẫn mang tính chất tự cung tự cấp từ các hộ gia đình, hoặc nhóm hộ nên còn nhiều hạn chế, công nghệ thủ công, sản phẩm chưa nhiều, mẫu mã chưa đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng... nên giá trị kinh tế thấp. Về làng nghề, tại khu vực này cũng còn rất khiêm tốn, với tổng số 89 làng nghề trên 1.837 làng bản (4,8%). Trong đó chỉ có 18 làng nghề có trên 50% hộ sản xuất - còn lại chủ yếu các làng nghề chỉ có khoảng 20 đến 30% số hộ sản xuất.
Bên cạnh đó, công tác đào tạo nghề và vốn đầu tư cho lĩnh vực này còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng và chất lượng. Hiện nay, nguồn nhân lực cung cấp cho thị trường lao động nói chung và cho phát triển ngành nghề, làng nghề nói riêng ở miền núi rất cần được đào tạo nghề, song mạng lưới các cơ sở dạy nghề và truyền nghề tại các làng bản vùng miền núi, nhất là vùng cao, vùng sâu lại rất hạn chế, chủ yếu trông chờ vào các dự án, chính sách của tỉnh và trung ương, chính vì thế mới chỉ có từ 5,4% đến 5,8% lao động được đào tạo nghề (kể cả ngắn hạn và dài hạn)...
Thực trạng trên thực sự là “bài toán” lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc miền núi tỉnh Thanh Hoá giai đoạn đến năm 2010 cũng như những năm tiếp theo. Để đẩy mạnh phát triển ngành nghề, làng nghề, thu hút nhiều thành phần kinh tế và nhiều lao động có việc làm thường xuyên, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế miền núi nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh của địa phương, tập trung phát triển sản xuất và chế biến lâm sản, khôi phục ngành nghề truyền thống, đưa nhanh một số nghề mới..., trước hết cần tăng cường công tác tuyên truyền đến mọi người dân, nhằm thay đổi căn bản nhận thức của người lao động nói chung, đặc biệt là lao động trẻ ở khu vực miền núi về mục đích, ý nghĩa của việc học nghề để tìm kiếm việc làm, nâng cao đời sống, tạo thu nhập ổn định. Tiếp tục đầu tư hoàn thiện và mở rộng mạng lưới dạy nghề, đào tạo nghề và nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân khu vực miền núi. Cụ thể là đầu tư hợp lý cho các trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề cụm huyện Ngọc Lặc làm cơ sở – mô hình cho việc mở rộng các trung tâm cụm tại các huyện khác, nhất là đối với các huyện vùng cao biên giới như Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát. Các ngành cấp tỉnh cần nghiên cứu đề xuất với tỉnh một số chính sách đặc thù - khuyến khích đối với các cơ sở dạy nghề, truyền nghề; có chính sách hỗ trợ phù hợp cho giáo viên, học viên tham gia dạy và học nghề, trong đó có chính sách vay vốn cho người học nghề sau khi ra trường, hoặc chính sách thu hút cán bộ, giáo viên dạy nghề và người có nghề từ vùng thấp, miền xuôi tình nguyện tham gia phát triển ngành nghề, làng nghề vùng miền núi dân tộc. Ngoài ra, một số vấn đề có tính giải pháp cũng cần được quan tâm như tăng cường liên kết mở rộng các cơ sở dạy nghề, truyền nghề giữa miền núi với các vùng, miền trong tỉnh và trong nước; thực hiện lồng ghép các nguồn vốn để tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ cho các trung tâm hướng nghiệp, dạy nghề,v.v... Những yếu tố trên sẽ tạo thêm động lực mạnh mẽ, đồng bộ cho việc phát triển ngành nghề, làng nghề, góp phần nâng cao đời sống nhân dân vùng dân tộc miền núi trong tỉnh.
(TTXT TM Thanh Hoá)
Nguồn:Vinanet