Thị trường thủy sản thế giới tháng 10/2008 trì trệ trong bối cảnh giá giảm xuất phát từ nhu cầu giảm. Giá tôm chân trắng của Thái Lan đã giảm khoảng 14 – 16%. Giá các loại thủy sản khác cũng giảm. Nhu cầu thấp dù bước vào mùa lễ hội, kể cả ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản - những thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất thế giới.
Do chi phí sản xuất cao mà giá thành sản phẩm thấp, ngành nuôi trồng thủy sản thế giới đang bị sa sút. Ngược lại với vài năm qua, sức tăng trưởng mạnh mẽ trong nuôi trồng thuỷ sản đã và sẽ bị chững lại trong năm 2008 và 2009. Điều này gây lo ngại cho tổng nguồn cung thuỷ sản trên toàn cầu. Sản lượng cá rôphi tăng nhanh chóng trong mấy năm gần đây cũng sẽ sụt giảm mạnh trong năm nay xuống còn 2,06 triệu tấn.
Nguồn cung cá minh thái Alaska giảm gần 11% vào năm nay xuống còn 2,5 triệu tấn và sẽ chỉ hổi phục nhẹ lên 2,58 triệu tấn vào năm sau. Năm nay, sản lượng cá minh thái Alaska của Mỹ giảm xuống còn 1 triệu tấn. So với năm 2005, sản lượng loài thuỷ sản này đã giảm hơn 32%. Ngược lại, sản lượng của Nga lại tăng 4% lên 1,2 triệu tấn và dự kiến sẽ tăng hơn 8% vào năm 2009, đạt 1,3 triệu tấn.
Sản lượng cá tuyết Đại Tây Dương sẽ giảm nhẹ (2%) còn 770.000 tấn. Nguồn cung cá tuyết haddock giữ nguyên mức 337.000 tấn mặc dù nhiều chuyên gia dự đoán sản lượng loài này sẽ tăng 13% vào năm 2009.
Ấn Độ có thể sẽ từ nước xuất khẩu thuỷ sản lớn trở thành nước nhập khẩu thuỷ sản do sản lượng trong nước giảm. Xuất khẩu thủy sản của nước này đã giảm từ mức 612.642 tấn vào năm 2006-2007 xuống còn 541.701 tấn, trị giá 76.200 triệu rupee trong năm 2007-2008. Trong khi đó tiêu thụ trong nước đang tăng do thu nhập của người dân và GDP tăng khá. Bởi vậy, về lâu dài cán cân xuất nhập khẩu có thể được cân bằng. Với xu hướng hiện tại thì đến năm 2050, Ấn Độ sẽ không còn nhiều thủy sản để xuất khẩu nữa cho nên cần phải cân nhắc đến việc nhập khẩu nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu.
Tôm:
Nhu cầu tiêu thụ tôm ở châu Âu năm nay thấp, trái với xu hướng tăng liên tục của mấy năm gần đầy. Trong khi nhu cầu thấp ở hầu hết các thị trường: Tây Ban Nha, Italia, Pháp…. các nước xuất khẩu tôm như Thái Lan, Inđônêixa, Ecuađo, Ấn Độ… lại đang nỗ lực mở rộng thị phần của mình trên thị trường Châu Âu do gặp khó khăn ở thị trường Mỹ. Kết quả là giá tôm tại châu Âu cũng giảm xuống, và tiêu thụ vẫn chậm. Trong ngắn hạn, khả năng thị trường tôm sẽ tiếp tục trì trệ. Tuy nhiên về trung hạn, chi phí khai thác, nuôi trồng, chế biến và vận chuyển tăng sẽ đẩy giá tôm tăng trở lại.
Cá ngừ:
Đầu tháng 9/2008, sản lượng cá Ngừ vằn ở Ấn Độ Dương đã cải thiện đáng kể kéo giá cá Ngừ vằn xuống 1.120 EUR/tấn. Đồng Euro giảm giá so với đồng Đôla đã dẫn đến giá USD cá Ngừ vằn ở Ấn Độ Dương giảm 15%. Sang tháng 10, giá cá ngừ vằn tiếp tục giảm. Tại Băng Cốc, Thái Lan, nơi tập trung nhiều nhà máy cá ngừ đóng hộp, giá cá ngừ vằn đã từng lên đến 2.000 USD/tấn, sau đó giảm mạnh vào tháng 10, khi nền kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng sâu sắc hơn. Giá cá ngừ vằn trên thị trường Thái Lan hiện ở mức 1.500 USD/tấn. Sản lượng cá ngừ đóng hộp tại Thái Lan hiện đã giảm 50% so với giai đoạn cao điểm của năm ngoái.
Lượng tiêu thụ cá ngừ vằn tại EU và Trung Đông đã giảm xuống. Đây là 2 thị trường trước đây có lượng tiêu thụ tăng mạnh do người tiêu dùng có nhu cầu lớn đối với thực phẩm lành mạnh. Các đơn hàng từ EU và Trung Đông vốn giúp giữ mức giá quốc tế cao giờ đã giảm với tốc độ chóng mặt.
Do khủng hoảng tài chính, giá cá ngừ đóng hộp tại Mỹ cũng giảm xuống 35 USD/thùng từ mức 41 USD/thùng. Thị trường cá Ngừ Mỹ là một sự kết hợp khó khăn giữa nhu cầu thấp và giá cá Ngừ cao trên thế giới, điều này có thể chỉ dẫn đến sự sụt giảm hơn trong tiêu thụ cá Ngừ. Với tất cả những thông tin tiêu cực về cá Ngừ trong mấy năm qua, hình tượng của cá Ngừ đã trở nên tồi tệ hơn và không có khả năng để hồi phục. Trong khi các nhà sản xuất trên thế giới đang nỗ lực để tạo ra các mẫu sản phẩm mới thì ngành cá Ngừ hộp Mỹ vẫn trung thành với cá ngừ ngâm muối đóng hộp cỡ 6oz và một số loại cá Ngừ đóng túi. Thị trường Mỹ ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào nhập khẩu cá ngừ đóng hộp và đóng túi. Thái Lan là nước xuất khẩu nhiều nhất các sản phẩm này, nhưng khối lượng đã giảm đáng kể trong 6 tháng đầu năm 2008, với chỉ 32.800 tấn được xuất khẩu, giảm 15% so với cùng kỳ năm 2007.
Xuất khẩu cá ngừ đóng hộp của Indonexia sang Mỹ đã giảm 40% từ khi cuộc khủng hoảng tài chính trở nên tồi tệ. Gần 60% thương nhân của Mỹ muốn hoãn nhập hàng của Inđônêxia trong vòng một tháng. Các nhà sản xuất cá ngừ đóng hộp Mỹ đã cắt giảm sản lượng xuống 20% từ mức hiện tại 120.000 tấn/năm.
Tại Nhật Bản, giá cá ngừ vằn đông lạnh, nguyên liệu chủ yếu để sản xuất cá ngừ khô và cá ngừ đóng hộp đã giảm mạnh. Ở vùng sản xuất chính tại Yaizu, quận Shizuoka, phía Tây Tokyo, giá cá ngừ vằn đã giảm 20 – 22% chỉ trong 3 tuần đầu tháng, xuống 155-179 yên/kg tại cảng Yaizu (loại cá ngừ vằn miền Nam cỡ 2,5/4,5 khai thác xa bờ bằng tàu lưới kéo). Tại cảng Makurazaki, quận Kagoshima, vùng cực Nam của Nhật Bản, nơi có lượng dự trữ cá ngừ văn thấp hơn ở Yaizu, giá cá ngừ vằn cũng giảm mạnh, xuống dưới 200 yên. Giá cá ngừ vây xanh nhập khẩu tại chợ thuỷ sản Tsukiji chưa có dấu hiệu tăng mặc dù lượng cung giảm. Giá chào bán cá ngừ vây xanh là 3000 yên (30 USD)/kg nhưng các nhà nhập khẩu Nhật chỉ chấp nhận trả giá 2700 yên (26 USD)/kg, tương đương với mức giá năm 2007. Nhập khẩu cá ngừ vây xanh Địa Trung Hải vào Nhật Bản năm nay dự kiến giảm khoảng 1/3 so với mức 3.000 tấn của năm ngoái. Ngư trường khai thác cá ngừ Địa Trung Hải năm nay đóng cửa sớm trong khi đó, nhu cầu tăng mạnh ở Châu Âu dẫn tới nguồn cung cho thị trường Nhật giảm. Nhu cầu tiêu thụ giảm cùng với việc mở rộng hoạt động nuôi cá ngừ đã giúp Nhật giảm lượng cá ngừ nhập khẩu.
Khuynh hướng giảm giá cá ngừ vằn này sẽ còn tiếp diễn một thời gian nữa do sẽ còn mất nhiều thời gian để kinh tế thế giới phục hồi và lượng dự trữ vẫn còn nhiều.
|
Giá tôm chân trắng tại Thái Lan (Baht/kg) |
|
Ngày |
50 con/kg |
60 con/kg |
70 con/kg |
80 con/kg |
90 con/kg |
100con/kg |
|
30/10/2008 |
115 |
105 |
100 |
97 |
93 |
88 |
|
26/9/2008 |
133 |
118 |
113 |
106 |
98 |
95 |
Nguồn:Vinanet