Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, ngày 16/10, thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các mặt hàng. Giá lúa tươi Đài Thơm 8 và OM 34 cùng tăng 100 đồng/kg so với ngày trước đó, trong khi các chủng loại lúa còn lại ít biến động.
Cụ thể, lúa tươi Đài Thơm 8 được thu mua trong khoảng 6.200–6.400 đồng/kg; OM 34 đạt 5.800–6.000 đồng/kg. Giá lúa IR 50404 dao động từ 6.000–6.200 đồng/kg, OM 18 ở mức 6.200–6.300 đồng/kg, OM 5451 đạt 6.000–6.100 đồng/kg. Riêng lúa DS1 được giao dịch ở mức 6.500–6.600 đồng/kg.
Tại An Giang, giá một số loại lúa tươi nhích lên nhưng hoạt động mua bán vẫn chậm. Các địa phương như Cần Thơ, Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long và Cà Mau ghi nhận lượng giao dịch thấp, giá lúa nhìn chung không có nhiều thay đổi.
Giá gạo nguyên liệu và phụ phẩm duy trì ổn định
Ở phân khúc gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, giá các chủng loại phổ biến tiếp tục đi ngang. Gạo CL 555 được giao dịch ở mức 8.800–8.850 đồng/kg; IR 504 ở mức 8.700–8.800 đồng/kg; OM 5451 đạt 9.300–9.400 đồng/kg.
Các mặt hàng khác gồm OM 18 dao động 8.700–8.850 đồng/kg, Đài Thơm 8 ở mức 9.200–9.400 đồng/kg, OM 380 và Sóc thơm cùng được giao dịch trong khoảng 7.500–7.600 đồng/kg.
Đối với phụ phẩm, giá tấm dao động từ 9.050–9.300 đồng/kg, trong khi cám ở mức 7.900–8.200 đồng/kg. Nhìn chung, nhóm hàng này chưa ghi nhận biến động đáng kể so với phiên trước.
Tại thị trường bán lẻ, giá gạo cũng giữ ổn định. Gạo Nàng Nhen tiếp tục có mức giá cao nhất trong các loại được khảo sát, ở mức 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài và gạo Nhật cùng được bán với giá 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg. Các loại gạo thường phổ biến có giá thấp hơn, dao động khoảng 14.000–16.000 đồng/kg.
Trong khi đó, thị trường nếp không có biến động mới. Nếp 3 tháng khô được giao dịch ở mức 9.600–9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi và IR 5625 tươi cùng dao động từ 7.300–7.500 đồng/kg.
Gạo xuất khẩu Việt Nam giữ giá, thị trường quốc tế ổn định
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục đi ngang. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm được chào bán ở mức 440–445 USD/tấn; gạo Jasmine đạt 515–519 USD/tấn, còn gạo thơm 100% tấm dao động từ 371–375 USD/tấn.
Tại các nước xuất khẩu lớn khác, giá gạo cũng chưa ghi nhận thay đổi đáng kể. Gạo trắng 5% tấm của Thái Lan được giao dịch ở mức 455–459 USD/tấn, cao hơn mức 409–413 USD/tấn của Pakistan.
Đối với Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm dao động từ 382–386 USD/tấn; gạo đồ 5% tấm duy trì ở mức 381–385 USD/tấn.
Như vậy, trong ngày 16/10, thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục duy trì trạng thái tương đối ổn định. Giá lúa tươi tăng nhẹ ở một số chủng loại, nhưng giao dịch vẫn trầm lắng; trong khi giá gạo nguyên liệu, phụ phẩm và gạo xuất khẩu chưa có biến động đáng kể.
Nguồn:Vinanet/VITIC