Trong 10 tháng đầu năm 2009 mặt hàng được nhập khẩu nhiều nhất từ thị trường Nga là: sắt thép các loại, với trị giá 656.461.980 USD, chiếm 55,9% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam từ thị trường này và tăng 62% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là mặt hàng xăng dầu các loại 272.810.299 USD, chiếm 23,2% tổng kim ngạch nhập khẩu và tăng 344% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, mặt hàng lúa mỳ và giấy tăng khá mạnh, tăng lần lượt 810% và 309% so với cùng kỳ năm trước.
Số liệu thống kê cho thấy những mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm trong 10 tháng đầu năm 2009 so với cùng kỳ năm trước là: linh kiện, phụ tùng ôtô giảm 80%; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng giảm 81%; ôtô nguyên chiếc giảm 77%; cao su giảm 54%; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 62%; phân bón giảm 41%; hoá chất giảm 33%; sản phẩm hoá chất giảm 26%; dược phẩm giảm 10%.
Số liệu nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam từ Nga 10 tháng đầu năm 2009
|
Mặt hàng |
ĐVT |
Lượng |
Trị giá (USD) |
|
Tổng |
|
|
1.172.564.599 |
|
Sắt thép các loại |
Tấn |
1.489.775 |
656.461.980 |
|
Xăng dầu các loại |
Tấn |
551.668 |
272.810.299 |
|
Phân bón các loại |
Tấn |
328.418 |
90.122.758 |
|
Sp từ sắt thép |
USD |
|
23.582.924 |
|
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác |
USD |
|
19.084.768 |
|
Cao su |
Tấn |
7.359 |
15.129.895 |
|
Giấy các loại |
Tấn |
20.455 |
13.850.207 |
|
Sp khác từ dầu mỏ |
USD |
551.668 |
7.936.410 |
|
Kim loại thường khác |
Tấn |
2.883 |
6.034.402 |
|
Hàng thủy sản |
USD |
|
6.024.568 |
|
Linh kiện, phụ tùng ôtô |
USD |
|
4.810.264 |
|
Hoá chất |
USD |
|
4.388.614 |
|
Lúa mì |
Tấn |
16.040 |
3.730.040 |
|
Phương tiện vận tải khác và phụ tùng |
USD |
|
3.164.902 |
|
Dược phẩm |
USD |
|
2.795.531 |
|
Sp hoá chất |
USD |
|
2.113.240 |
|
Dây điện và dây cáp điện |
USD |
|
1.879.365 |
|
Ôtô nguyên chiếc các loại |
Chiếc |
|
1.780.707 |
|
Gỗ và sp gỗ |
USD |
|
709.391 |
Nguồn:Vinanet