Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Indonesia tháng 1/2010 đạt 90 triệu USD, tăng 389,4% so với cùng kỳ nhưng giảm 6,5% so với tháng 12/2009, chiếm 1,8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam tháng 1/2010.
Dầu thô là mặt hàng chiếm thị phần lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Indonesia tháng 1/2010, đạt 16,8 triệu USD, tăng 80% so với tháng 12/2009, chiếm 18,6% trong tổng kim ngạch.
Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu sang Indonesia tháng 1/2010 đều tăng trưởng mạnh, đặc biệt một số mặt hàng có tốc độ tăng đột biến: thứ nhất là cà phê đạt 7 triệu USD, tăng 6.025,9% so với cùng kỳ và tăng 38% so với tháng 12/2009, chiếm 8,2% trong tổng kim ngạch; thứ hai là cao su đạt 972 nghìn USD, tăng 3.918,7% so với cùng kỳ nhưng giảm 50% so với tháng 12/2009, chiếm 1% trong tổng kim ngạch; sau cùng là sắt thép các loại đạt 10 triệu USD, tăng 1.933,2% so với cùng kỳ nhưng giảm 29,1% so với tháng 12/2009, chiếm 11,1% trong tổng kim ngạch.
Bên cạnh đó là một số mặt hàng xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng cao: sản phẩm từ chất dẻo đạt 2,7 triệu USD, tăng 709,6% so với cùng kỳ và tăng 12,1% so với tháng 12/2009, chiếm 3% trong tổng kim ngạch; tiếp theo là chè đạt 465,6 nghìn USD, tăng 585,9% so với cùng kỳ và tăng 25,9% so với tháng 12/2009, chiếm 0,5% trong tổng kim ngạch; sau cùng là hàng rau quả đạt 419 nghìn USD, tăng 370,8% so với cùng kỳ và tăng 109% so với tháng 12/2009, chiếm 0,5% trong tổng kim ngạch…
Gạo, sản phẩm từ sắt thép là hai mặt hàng duy nhất trong tất cả các mặt hàng xuất khẩu sang Indonesia tháng 1/2010 có độ suy giảm: gạo đạt 1,4 triệu USD, giảm 47,7% so với cùng kỳ nhưng tăng 356,5% so với tháng 12/2009, chiếm 1,6% trong tổng kim ngạch; sản phẩm từ sắt thép đạt 405,8 nghìn USD, giảm 32,8% so với cùng kỳ và giảm 46% so với tháng 12/2009, chiếm 0,45% trong tổng kim ngạch.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Indonesia tháng 1/2010
|
Mặt hàng
|
Kim ngạch XK tháng 1/2009 (USD)
|
Kim ngạch XK tháng 1/2010 (USD)
|
% tăng, giảm kim ngạch XK so với cùng kỳ
|
|
Tổng
|
18.428.572
|
90.180.991
|
+ 389,4
|
|
Hàng thuỷ sản
|
387.874
|
1.824.146
|
+ 370,3
|
|
Hàng rau quả
|
89.100
|
419.469
|
+ 370,8
|
|
Cà phê
|
120.859
|
7.403.728
|
+ 6.025,9
|
|
Chè
|
67.883
|
465.579
|
+ 585,9
|
|
Gạo
|
2.750.251
|
1.438.050
|
- 47,7
|
|
Dầu thô
|
|
16.800.000
|
|
|
Sản phẩm hoá chất
|
318.885
|
760.235
|
+ 138,4
|
|
Sản phẩm từ chất dẻo
|
332.958
|
2.695.514
|
+ 709,6
|
|
Cao su
|
24.200
|
972.534
|
+ 3.918,7
|
|
Sản phẩm từ cao su
|
64.207
|
272.551
|
+ 324,5
|
|
Giấy và các sản phẩm từ giấy
|
|
369.327
|
|
|
Hàng dệt, may
|
3.920.300
|
4.567.990
|
+ 16,5
|
|
Giày dép các loại
|
468.705
|
703.470
|
+ 50
|
|
Sắt thép các loại
|
494.424
|
10.052.385
|
+ 1.933,2
|
|
Sản phẩm từ sắt thép
|
604.259
|
405.791
|
- 32,8
|
|
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
|
261.480
|
768.883
|
+ 194
|
|
Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác
|
660.213
|
2.209.895
|
+ 234,7
|
|
Phương tiện vận tải và phụ tùng
|
910.768
|
2.300.353
|
+ 152,6
|
Nguồn:Vinanet