Kim ngạch nhập khẩu tháng 4/2010 đạt 6,95 tỷ USD, tăng 3% so với tháng 3 và tăng 25% so với tháng 4/2009. Tính chung 4 tháng ước đạt 24,8 tỷ USD, tăng 35,6% so với cùng kỳ, trong đó xét theo nhóm hàng, nhóm hàng cần thiết nhập khẩu 4 tháng tăng 31,5%, nhóm hàng cần phải kiểm soát tăng 58,8%, nhóm hàng hạn chế nhập khẩu tăng 44,5% so với cùng kỳ.
Tốc độ tăng trưởng về lượng và kim ngạch nhập khẩu của một số mặt hàng chủ yếu 4 tháng so với cùng kỳ như : xăng dầu giảm 23,2% về lượng nhưng tăng 19,7% về kim ngạch; thép các loại tăng 18,1% về lượng và tăng 33,9% về kim ngạch; giấy các loại tăng 8,8% về lượng và tăng 34,6% về kim ngạch; chất dẻo nguyên liệu tăng 7,7% về lượng và tăng 54,8% về kim ngạch, kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị tăng 14,8%, kim ngạch nhập khẩu máy tính và linh kiện tăng 43,7%....
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu tháng 4 và 4 tháng đầu năm từ một số thị trường so với tháng 4/2009 như: Châu Á tăng 34,7%; châu Âu tăng 36,2%; châu Mỹ tăng 72,25; châu Đại Dương tăng 44,9%.
Về thị phần kim ngạch nhập khẩu 4 tháng: châu Á chiếm 77,3%; châu Âu chiếm 11,8%; châu Mỹ chiếm 7,2%; châu Đại dương chiếm 1,9%.
Là nước nông nghiệp, có diện tích rừng nhiệt đới lớn lẽ ra Việt Nam có nguồn nguyên liệu dồi dào cho sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu, nhưng ít ai ngờ hiện Việt Nam đã phải nhập khẩu cả tre, song, mây để sản xuất. Tổng thư ký Hiệp hội Làng nghề Việt Nam Lê Duy Dần cho biết, nguồn nguyên liệu cho các làng nghề thủ công mỹ nghệ đang dần cạn liệnt, không chỉ phải nhập khẩu mây, tre mà ngay cả đất sét chúng ta cũng có nguy cơ phải nhập khẩu. Còn với những nguyên liệu tưởng như phổ biến ở Việt Nam như: bèo, lá, rứa dại, trúc… cũng không đáp ứng được nhu cầu của sản xuất hàng xuất khẩu. Giải pháp cốt yếu để giảm nhập siêu mà các cơ quan quản lý cũng như các chuyên gia kinh tế đều đồng tình hiện nay là đẩy mạnh xuất khẩu nhưng câu chuyện nguồn nguyên liệu cho sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ trên cho thấy thực trạng chúng ta không có hàng để xuất khẩu.
Những ngành hàng xuất khẩu khác hiện nay như: dệt may, da giày, đồ gỗ, điện tử…. cũng gặp phải những thực trạng trên. Với kim ngạch xuất khẩu trên 9,1 tỷ USD năm 2009 nhưng tỷ lệ nguyên phụ liệu nhập khẩu của nhóm hàng này chiếm từ 60 đến80%. Với kim ngạch xuất khẩu dự kiến năm 2010 khoảng 11 tỷ USD thì giá trị nguyên phụ liệu dệt may nhập khẩu là rất lớn. Bài toán giảm nhập siêu lâm vào cảnh càng xuất khẩu nhiều thì càng phải nhập nhiều.
Việt Nam là nước nông nghiệp, đa dạng về cây lương thực với sản lượng quy thóc trên 37 triệu tấn, năm 2009 xuất khẩu 4,5 tỷ USD thủy sản. Vậy mà năm 2009 Việt Nam dã nhập khẩu 2,1 tỷ USD các loại thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu cho sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước, trong đó trên 1 tỷ USD nhập khẩu đậu tương, 300 triệu USD nhập khẩu ngô, gần 300 triệu USD nguyên liệu từ cá… Theo số liệu thống kê hải quan, quý I/2010 cả nước đã nhập khẩu 613 triệu USD thức ăn chăn nuôi, tăng 133,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng đậu tương đã đạt 395 triệu USD (cả năm 2009 là 300 triệu USD). Chủ tịch Hiệp hội thức ăn chăn nuôi cho rằng, Việt Nam đang thiếu một chiến lược cho ngành chế biến thức ăn chăn nuôi. Do đó, nguồn cung cấp nguyên liệu này không đủ về số lượng và thất thường.
Trước áp lực ngày càng căng thẳng của nhập siêu thời gian gần đây, Bộ Công Thương đã triển khai những biện pháp mới, mang tính cấp bách như: cấp phép nhập khẩu, xây dựng tiêu chuẩn cho hàng nhập khẩu… nhưng hiệu quả còn nhiều hạn chế, bởi hàng nhập khẩu theo ba nhóm chính: thứ nhất là cần thiết nhập khẩu (máy móc, công nghệ, nguyên phụ liệu đầu vào nhằm phục vụ sản xuất trong nước và sản xuất để xuất khẩu); thứ hai là nhóm hàng không khuyến khích nhập khẩu; thứ ba là nhóm hàng hạn chế nhập khẩu.Theo phân tích của các nhà kinh tế, nhóm hàng cần thiết nhập khẩu có tỷ trọng 82,5% trên tổng giá trị nhập khẩu, hai nhóm còn lại chỉ chiếm trên 17%. Do đó các biện pháp kiềm chế nhập siêu có hiệu quả cao cũng chỉ tác động và làm giảm giá trị đến 7-8% tổng số hàng nhập khẩu.
Nhiệm vụ khó khăn
Theo Bộ Công Thương, để đáp ứng nhu cầu sản xuất phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, dự kiến kim ngạch nhập khẩu năm 2010 của cả nước là 72,66 tỷ USD, tăng 5,6% so với năm 2009. Trong quá trình điều hành luôn quan tâm để tăng trưởng nhập khẩu không cao hơn tăng trưởng xuất khẩu và khống chế mức nhập siêu không quá 20%. Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ rất khó khăn, bởi phần lớn nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu cả nền kinh tế đều nhập khẩu từ nước ngoài và để đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước nên máy móc phụ tùng nhập khẩu cũng ngày càng gia tăng. Do vậy, việc hạn chế nhập khẩu sẽ tập trung vào nhóm các mặt hàng tiêu dùng xa xỉ phẩm và một số máy móc thiết bị trong nước đã sản xuất được. Bộ Công Thương cũng thừa nhận nhóm các hàng hóa này chiếm tỷ trọng không cao trong cơ cấu mặt hàng nhập khẩu. Cụ thể cơ cấu các nhóm hàng nhập khẩu năm 2010 như sau:
Nhóm hàng cần thiết nhập khẩu, là đầu vào cho sản xuất và xuất khẩu, do đó phải đảm bảo và tạo thuận lợi cho nhập khẩu để ổn định sản xuất, không áp dụng các biện pháp hành chính và kinh tế để quản lý. Tuy nhiên vẫn phải tính đến khả năng giảm hợp lý nhập khẩu ở nhóm này, đặc biệt khâu dự trữ, khai thác nguyên liệu trong nước để thay thế, thì mới có khả năng giảm nhập siêu vì tỷ trọng nhóm hàng này chiếm trên 83% tổng giá trị nhập khẩu.
Nhóm hàng nhập khẩu cần kiểm soát, gồm các mặt hàng: sản phẩm từ thép, đá quý, kim loại quý, hàng hóa khác… , hiện chiếm tỷ trọng 8,7% tổng kim ngạch nhập khẩu sẽ giảm còn 8,2% năm 2010. Giải pháp quản lý như đối với nhóm hàng cần thiết nhưng với mức độ chặt chẽ hơn, đặc biệt với mặt hàng vàng, đá quý….
Nhóm hàng hạn chế nhập khẩu, gồm: hàng tiêu dùng, ôtô nguyên chiếc dưới 9 chỗ, linh kiện ôtô dưới 9 chỗ, linh kiện và phụ tùng xe gắn máy, điện thoại di động, mỹ phẩm… Tỷ trọng hiện chiếm 8,8% tổng kim ngạch nhập khẩu, sẽ giảm còn 8,7% và tốc độ tăng năm 2009 là 4,4% sẽ giảm còn 3,8% năm 2010.
Về thị trường nhập khẩu, phần lớn nguyên nhiên liệu cơ bản vẫn nhập khẩu từ thị trường châu Á với thuận lợi về khoảng cách, phù hợp thị hiếu, giá cả (ước tính tỷ trọng chiếm khoảng 75-80%), tiếp theo là EU và châu Mỹ. Do đó, việc điều hành, quản lý của các bộ, ngành cần quan tâm tới sự cân đối xuất nhập khẩu với các thị trường này.
Đơn vị tính: Kim ngạch:triệu USD; tăng %
|
Nội dung
|
Năm 2009
|
KH năm 2010
|
Tăng giảm (%)
|
Tỷ trọng 2009 (%)
|
Tỷ trọng 2010 (%)
|
|
Tổng kim ngạch
|
68.830
|
72.660
|
5,6
|
100,0
|
100,0
|
|
Nhóm hàng cần NK
|
56.763
|
60.415
|
6,4
|
82,5
|
83,1
|
|
Nhóm hàng cần phải kiểm soát NK
|
6.005
|
5.950
|
-0,9
|
8,7
|
8,2
|
|
Nhóm hàng hạn chế NK
|
6.062
|
6.295
|
3,8
|
8,8
|
8,7
|
(TBKTVN)
Nguồn:Thời báo kinh tế Việt nam