Tính chung 4 tháng đầu năm 2026 đạt 3,985 triệu tấn, trị giá 1,019 tỷ USD, giá trung bình 255,83 USD/tấn, tăng 65,69% về lượng, tăng 59,8% kim ngạch và giảm 3,55% về giá so với 4 tháng năm 2025.
Lúa mì nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất từ thị trường Australia, tháng 4/2026 nhập khẩu 111.883 tấn, tương đương 31,3 triệu USD, giá trung bình 279,71 USD/tấn, giảm 32,45% về lượng, giảm 33,25% kim ngạch và giá giảm 1,19% so với tháng 3/2026. So với tháng 4/2025, giảm 54,43% về lượng, giảm 51,9% về kim ngạch và tăng 5,56% về giá; chiếm 14,57% trong tổng lượng và chiếm 15,75% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước.
Brazil là thị trường lớn thứ 2 cung cấp lúa mì cho Việt Nam trong tháng 4/2026 nhập khẩu 61.733 tấn, tương đương 16 triệu USD, giá trung bình 259,12 USD/tấn, giảm 3,66% về lượng, giảm 3,47% kim ngạch nhưng tăng 0,2% về giá so với tháng 3/2026; so với tháng 4/2025 thì giảm 60,43% về lượng, giảm 60,3% về kim ngạch, nhưng tăng 0,33% về giá; chiếm 10,63% trong tổng lượng và chiếm 10,67% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước.
Ngoài các thị trường chính trên, Việt Nam cũng nhập khẩu lúa mì từ thị trường Canada, Hoa Kỳ và Ukraine.
Sau giai đoạn khó khăn, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản đang trên đà hồi phục mạnh mẽ, kéo theo nhu cầu rất lớn về năng lượng và protein từ ngũ cốc (trong đó lúa mì thường được dùng để thay thế một phần ngô khi tỷ lệ giá cả phù hợp). Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm chế biến từ bột mì (mì ăn liền, bánh mì, bánh kẹo, mì sợi...) của thị trường nội địa lẫn xuất khẩu đều duy trì mức tăng trưởng ổn định.
Thị trường nhập khẩu lúa mì 4 tháng đầu năm 2026
 |
|
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Cục Hải quan
|
Nguồn:Vinanet/VITIC