Đồ điện, điện tử gia dụng và lương thực-thực phẩm: 2 nhóm hàng này chiếm tổng cộng 79,1% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng tiêu dùng 7 tháng đầu năm nay, tương đương với hơn 2 tỷ USD. Tuy nhiên, tỷ lệ này đã giảm trong tháng 7, xuống còn 74,2%. Cả tháng 7, kim ngạch nhập khẩu 2 nhóm hàng này đạt 296,3 triệu USD.
So với mức nhập khẩu trung bình trong 6 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu đồ điện tử gia dụng chỉ tăng 3,4%; lương thực - thực phẩm tăng 5%, đều thấp hơn mức tăng chung.
Có thể thấy rằng đây là hệ quả tất yếu của xu hướng cắt giảm chi tiêu trong bối cảnh kinh tế khó khăn. Đáng chú ý, là các mặt hàng chủ lực trong nhóm này đều có mức giảm khá. So với mức NK trung bình 6 tháng đầu năm 2009, kim ngạch NK điện thoại di động giảm 15,2%; Băng đĩa nhạc, dụng cụ điện gia đình giảm 6,9%; Chế phẩm từ trái cây giảm 15%; Chế phẩm từ rau quả giảm 15,4%; Gạo các loại giảm 37,2%; Sôcôla và các chế phẩm thực phẩm ăn được khác có chứa ca cao giảm 19,6%.
Phương tiện đi lại: đây là nhóm có mức tăng cao nhất. Trong tháng 7, kim ngạch NK của nhóm này chiếm tới 13,4% tổng kim ngạch NK trong khi 7 tháng đầu năm chỉ chiếm có 9,9%. Các loại ôtô dưới 10 chỗ ngồi NK nguyên chiếc trong tháng 7 có mức tăng trưởng kỷ lục với kim ngạch đạt trên 45 triệu USD, trong khi 6 tháng đầu năm kim ngạch nhập khẩu mới chỉ đạt 160 triệu USD. So với mức NK trung bình 6 tháng đầu năm, kim ngạch NK ôtô nguyên chiếc dưới 10 chỗ trong tháng 7 đã tăng tới 120,3%- mức tăng cao nhất trong số các mặt hàng tiêu dùng NK trên 10 triệu USD/tháng.
Đồ gia dụng: So với kim ngạch NK trung bình 6 tháng đầu năm, kim ngạch NK đồ gia dụng tăng 35%. Tuy nhiên tỷ trọng của nhóm này trong tháng 7 không tăng quá mạnh, đạt 4,6%, so với mức 3,9% tính chung cả 7 tháng. Từ đầu năm đến nay, NK các mặt hàng thuộc nhóm đồ gia dụng mới chỉ đạt 99,2 triệu USD. Trong nhóm này, trừ 2 mặt hàng là sản phẩm gỗ và hàng thủ công mỹ nghệ (sản phẩm từ rơm, cỏ giấy, liễu gai, song mây…) là giảm so với mức trung bình 6 tháng đầu năm, còn lại các mặt hàng khác NK đều tăng khác mạnh, dù kim ngạch vẫn còn thấp. Các mặt hàng có mức tăng mạnh gồm có: Đồ gốm, sứ tăng 97,5%; Bồ đồ ăn, dụng cụ đồ nghề bằng kim loại thường tăng 63,3%; sản phẩm từ sắt thép tăng 58,1%; sản phẩm bằng nhựa tăng 44,4%; Sản phẩm bằng da thuộc tăng 34,6%; Sản phẩm bằng nhôm 32,5%; sản phẩm bằng giấy, bột giấy tăng 26,6%...
Đồ nội thất (giường, tủ, bàn, ghế…); Bộ đồ giường; Đèn các loại: Kim ngạch nhập khẩu trong tháng 7 đạt 2,89 triệu USD, tính chung cả 7 tháng đầu năm đạt 13,8 triệu USD. Đây là nhóm hàng có mức tăng khá mạnh, kim ngạch NK trong tháng 7 cao hơn mức trung bình trong 6 tháng đầu năm tới 58,8%.
Hàng may mặc, giày dép: Tỷ trọng của nhóm này trong tổng NK hàng tiêu dùng khá thấp, 7 tháng đầu năm chỉ chiếm có 1,4% và trong tháng 7 chiếm 1,6%. Nhóm hàng này cũng có chiều hướng tăng khi mà kim ngạch NK trong tháng 7 tăng 29,1% so với mức trung bình 6 tháng đầu năm, đạt hơn 6,4 triệu USD.
Trong tháng 7, tính chung mặt hàng quần áo và hàng may mặc các loại đạt kim ngạch 2,67 triệu USD, chỉ tăng 12,2%, thấp hơn so với mức tăng chung của cả nhóm. Mặt hàng giày dép cũng chỉ tăng 18,4%, đạt kim ngạch 1,45 triệu USD. Dự báo NK 2 mặt hàng này cũng sẽ tăng chậm trong 6 tháng cuối năm.
Hàng tạp hoá: Kim ngạch 7 tháng đạt 7,58 triệu USD, tương đương có 0,3% tổng NK. Tuy nhiên, riêng trong tháng 7 kim ngạch đã đạt 1,56 triệu USD, như vậy là cao hơn mức trung bình 6 tháng đầu năm tới 56%. Trong số các loại hàng tạp hoá NK từ đầu năm đến nay, đáng chú ý là tỷ trọng rất lớn của mặt hàng tạp hoá chế tác từ kim loại thường, mặt hàng này chiếm trên 80% tỏng kim ngạch NK nhóm hàng này.
Số liệu nhập khẩu hàng tiêu dùng 7 tháng đầu năm 2009
|
Nhóm hàng/chủng loại |
7 tháng đầu năm 2009 |
|
|
Kim ngạch (USD) |
Tỷ trọng |
|
Tổng |
2.534.999.344 |
100,0% |
|
Đồ điện, điện tử gia dụng |
1.204.548.687 |
47,4% |
|
Băng đĩa nhạc, dụng cụ điện gia đình |
745.743.607 |
29,4% |
|
- Trong đó: Điện thoại di động |
536.931.692 |
21,2% |
|
Máy móc thiết bị điện gia đình |
451.224.276 |
17,8% |
|
Kính, máy ảnh |
3.813.998 |
0,2% |
|
Đồ chơi, dụng cụ thể thao |
15.697.037 |
0,6% |
|
Đồ gia dụng |
99.207.947 |
3,9% |
|
Các s.p bằng giấy, bột giấy |
26.593.359 |
1,0% |
|
S.p bằng nhựa |
17.799.905 |
0,7% |
|
Các s.p bằng sắt hoặc thép |
13.846.131 |
0,5% |
|
Các s.p bằng thủy tinh |
12.763.247 |
0,5% |
|
S.p bằng cao su |
8.617.740 |
0,3% |
|
Đồ gốm, sứ |
4.489.508 |
0,2% |
|
Bộ đồ ăn, dụng cụ bằng kim loại thường |
2.974.102 |
0,1% |
|
Các s.p bằng nhôm |
1.747.126 |
0,1% |
|
Các s.p bằng đồng |
732.200 |
0,0% |
|
Các mặt hàng bằng gỗ |
223.900 |
0,0% |
|
Đồ trang sức, kim hoàn, ngọc trai |
1.043.348 |
0,0% |
|
Đồ nội thất (giường, tủ….); Đèn các loại |
13.799.737 |
0,5% |
|
Xà phòng, chất tẩy rửa, chất đánh bóng và nến |
10.314.372 |
0,4% |
|
Hàng may mặc, giầy dép |
36.452.808 |
1,4% |
|
Giầy dép và các sp tương tự |
8.779.143 |
0,3% |
|
Quần áo, hàng may mặc, không dệt kim hoặc móc |
8.647.941 |
0,3% |
|
Quần áo, hàng may mặc, dệt kim hoặc móc |
8.305.402 |
0,3% |
|
Thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác |
6.715.677 |
0,3% |
|
Lương thực- thực phẩm |
800.875.101 |
31,6% |
|
Sữa và s.p sữa; trứng chim, gia cầm; s.p động vật |
152.672.215 |
6,0% |
|
Dầu mỡ động thực vật |
129.056.090 |
5,1% |
|
Chế phẩm từ ngũ cốc, bột, tinh bột hoặc sữa; bánh |
114.604.198 |
4,5% |
|
Thịt và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau khi giết mổ |
71.746.373 |
2,8% |
|
Đồ uống, rượu và giấm |
46.345.716 |
1,8% |
|
Đường các các loại kẹo đường |
42.040.951 |
1,7% |
|
S.p chế biến từ thuỷ sản |
32.839.208 |
1,3% |
|
Gạo các loại |
6.892.729 |
0,3% |
|
Sôcôla và các thực phẩm ăn được có chứa ca cao |
4.715.919 |
0,2% |
|
Các s.p từ thịt, cá và động vật dưới nước khác |
2.595.334 |
0,1% |
|
Cà phê, chè và các loại gia vị |
2.324.349 |
0,1% |
|
Phương tiện đi lại |
250.237.931 |
9,9% |
|
Ôtô dưới 10 chỗ, môtô, xe đạp 2 bánh, xe đẩy trẻ em |
250.237.931 |
9,9% |
|
Trong đó: ôtô nguyên chiếc dưới 10 chỗ |
167.742.668 |
6,6% |
Nguồn:Vinanet