Theo đó, phạm vi điều chỉnh là rà soát, điều chỉnh một số nội dung của Quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí đốt quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch) được phê duyệt tại Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 18/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ, có tính chất cấp bách, đáp ứng yêu cầu về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Nội dung trọng tâm của việc điều chỉnh Quy hoạch bao gồm:
Thứ nhất, đánh giá tình hình thực hiện Quy hoạch được phê duyệt tại Quyết định số 861/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; xác định những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và các nội dung cần điều chỉnh có tính cấp bách.
Thứ hai, cập nhật địa giới đơn vị hành chính; định hướng các công trình hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí đốt, đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Thứ ba, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 điều chỉnh, các quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và các quy hoạch có liên quan.
Việc hoàn thiện hồ sơ Điều chỉnh Quy hoạch, trình Bộ trưởng Bộ Công Thương xem xét, phê duyệt thực hiện trước ngày 15/10/2026.
Bộ trưởng Bộ Công Thương giao Cục Năng lượng - Dầu khí chủ trì đánh giá tình hình thực hiện Quy hoạch; xây dựng hồ sơ Điều chỉnh Quy hoạch; tổ chức lấy ý kiến, tiếp thu, giải trình và hoàn thiện hồ sơ, trình Bộ trưởng Bộ Công Thương xem xét, phê duyệt theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15 và Nghị định số 70/2026/NĐ-CP ngày 9/3/2026 của Chính phủ.
Các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ và các cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm phối hợp với Cục Năng lượng - Dầu khí trong quá trình triển khai thực hiện.
Quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí đốt quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đặt mục tiêu phát triển hệ thống hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí đốt quốc gia bao gồm dự trữ quốc gia; dự trữ sản xuất, dự trữ thương mại, vận tải, lưu thông phân phối, đáp ứng các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật, môi trường, đảm bảo dự trữ, cung ứng đầy đủ, an toàn, liên tục cho phát triển kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng.
Trong đó, đảm bảo sức chứa dự trữ dầu thô và sản phẩm xăng dầu cả nước đạt 75 - 80 ngày nhập ròng, phấn đấu đạt 90 ngày nhập ròng; đảm bảo sức chứa dự trữ khí đốt đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và khí nguyên liệu cho các ngành năng lượng và công nghiệp.
Cụ thể, về xăng dầu, Quy hoạch đặt mục tiêu đảm bảo hạ tầng dự trữ dầu thô, nguyên liệu và sản phẩm phục vụ sản xuất, chế biến xăng dầu đáp ứng tối thiểu 20 ngày nhập ròng trong giai đoạn 2021 - 2030, đến 25 ngày nhập ròng giai đoạn sau năm 2030. Dự trữ thương mại chứa tăng thêm từ 2,5 - 3,5 triệu m3 trong giai đoạn 2021 - 2030, đạt sức chứa tới 10,5 triệu m3 giai đoạn sau năm 2030, đáp ứng 30 - 35 ngày nhập ròng.
Dự trữ quốc gia đảm bảo sức chứa từ 500.000 - 1 triệu m3 sản phẩm xăng dầu và 1 - 2 triệu tấn dầu thô, đáp ứng 15-20 ngày nhập ròng trong giai đoạn 2021 - 2030; đảm bảo sức chứa từ 500.000 - 800.000 m3 sản phẩm xăng dầu và 2 - 3 triệu tấn dầu thô, đáp ứng 25 - 30 ngày nhập ròng trong giai đoạn sau năm 2030.
Về khí đốt, đảm bảo hạ tầng dự trữ đối với LPG sức chứa tới 800.000 tấn giai đoạn 2021 - 2030 và tới 900.000 tấn giai đoạn sau năm 2030; đối với LNG đạt 20 triệu tấn/năm giai đoạn 2021 - 2030 và tới 40 triệu tấn/năm giai đoạn sau năm 2030.
Bên cạnh đó, phát triển hạ tầng cung ứng xăng dầu, khí đốt đáp ứng nhu cầu vận tải bằng đường ống từ nguồn cung ứng tới các trung tâm, hộ tiêu thụ công nghiệp và dân dụng.
Nguồn:Thy Thảo/Tạp chí Công thương