Nền tảng của kinh tế nhà nước bao gồm toàn bộ các nguồn lực chiến lược do Nhà nước nắm giữ và quản lý—từ đất đai, tài nguyên khoáng sản, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng đến ngân sách, dự trữ quốc gia và lực lượng doanh nghiệp nhà nước. Trải qua lịch sử 80 năm xây dựng và gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, kinh tế nhà nước đã luôn giữ vững vai trò chủ đạo, dẫn dắt, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an ninh, quốc phòng. Dẫu vậy, thực tiễn cũng thẳng thắn chỉ ra nhiều hạn chế lớn khi chính sách pháp luật chưa theo kịp thời đại, việc sử dụng tài sản công còn lãng phí, hiệu quả của khối doanh nghiệp nhà nước chưa xứng tầm và năng lực cạnh tranh quốc tế còn khiêm tốn. Những bất cập này chủ yếu bắt nguồn từ những rào cản mang tính nhận thức, sự thiếu đồng bộ của thể chế thể loại pháp lý cùng trách nhiệm giải trình chưa nghiêm của người đứng đầu.
Để khai thông các điểm nghẽn, Bộ Chính trị đề ra hệ thống năm quan điểm chỉ đạo cốt lõi làm kim chỉ nam. Đầu tiên, kinh tế nhà nước phải đóng vai trò chủ đạo, là công cụ vật chất đắc lực để điều tiết vĩ mô và can thiệp kịp thời trước các biến động khẩn cấp. Thứ hai, thành phần này cần vận hành bình đẳng, minh bạch trước pháp luật, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác để cùng xây dựng nội lực tự chủ, tự cường. Thứ ba, mọi nguồn lực công phải được thống kê và hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường, tách bạch rõ ràng giữa nhiệm vụ chính trị, công ích với hoạt động kinh doanh thuần túy. Thứ tư, kinh tế nhà nước phải đi tiên phong trong kiến tạo, lấy khoa học công nghệ và chuyển đổi số làm động lực chính nhằm cơ cấu lại mô hình tăng trưởng. Cuối cùng, cốt lõi thành bại phụ thuộc vào việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp phân quyền gắn với cơ chế kiểm tra và hậu kiểm rủi ro nghiêm ngặt.
Hướng tới mục tiêu chiến lược, Nghị quyết vạch rõ tầm nhìn đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại vào năm 2030 và quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Cụ thể đến mốc năm 2030, thể chế quản lý đất đai và kết cấu hạ tầng liên vùng sẽ được số hóa và hoàn thiện toàn diện. Tỉ lệ huy động ngân sách nhà nước hướng tới khoảng 18% GDP, kiểm soát nợ công không quá 60% GDP và dự trữ quốc gia đạt tối thiểu 1% GDP (và tăng lên 2% vào năm 2045). Đối với khối doanh nghiệp nhà nước, quyết tâm xây dựng ít nhất 50 đơn vị lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á, từ 1 đến 3 tập đoàn tầm cỡ thế giới, đảm bảo quản trị số đồng bộ theo tiêu chuẩn quốc tế OECD. Hệ thống tài chính cũng đặt chỉ tiêu phát triển tối thiểu 3 ngân hàng thương mại nhà nước nằm trong nhóm 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về quy mô tài sản.
Để hiện thực hóa khát vọng đó, một hệ thống giải pháp toàn diện đã được đồng loạt triển khai. Toàn hệ thống chính trị phải chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển. Nhà nước cam kết xây dựng một hành lang pháp lý đồng bộ, triển khai các mô hình thử nghiệm (sandbox) để kích hoạt kinh tế không gian, kinh tế tầm thấp, không gian ngầm và kinh tế số. Các nguồn lực đất đai, tài nguyên nước, biển đảo và khoáng sản chiến lược sẽ được kiểm kê, quy hoạch tích hợp và hiện đại hóa quản trị trên nền tảng dữ liệu quốc gia liên thông. Cơ chế phân cấp chi ngân sách sẽ tăng tính chủ động cho địa phương theo tinh thần "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm". Đặc biệt, Đảng và Nhà nước kiên quyết thiết lập cơ chế bảo vệ vững chắc những cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, nâng cao chế độ đãi ngộ thu hút nhân tài. Đồng thời, các cơ quan chức năng sẽ chấm dứt việc kiểm tra chồng chéo, xử lý nghiêm minh các sai phạm để bảo toàn tài sản quốc gia, tạo môi trường thuận lợi cho dòng vốn công - tư cùng thúc đẩy đất nước cất cánh.
Xem chi tiết văn bản
tại đây
Nguồn:Vinanet/VITIC