Dự án truy xuất nguồn gốc (TXNG ) tôm nuôi của Inđônêxia kéo dài 3 năm đã kết thúc thắng lợi với các mô hình thí điểm ở Sidoarjo, Makassar và Tarakan. Tuy nhiên, sẽ là một thách thức đối với những người nuôi, nậu vựa và chế biến tôm cũng như các cơ quan quản lý cấp tỉnh và trung ương trong việc triển khai sáng kiến này ra toàn quốc.
Kiểm tra mã số tôm tại nhà máy chế biến và đo nhiệt độ tôm phải ở 30c.
Điều phối viên dự án, cùng với FoodReg (Tổ chức cung cấp hệ thống TXNG sản phẩm) của Malaixia và cán bộ Tổng cục Chứng nhận và Tiêu chuẩn hóa, Bộ Nghề cá và Biển của Inđônêxia đã xây dựng một chương trình thông tin về TXNG nói chung và hệ thống giám sát TXNG tại chỗ cho các cán bộ quản lý cấp tỉnh cũng như những đối tượng tham gia, gồm người nuôi tôm, các nhà cung ứng (nậu vựa thu gom) tôm và các nhà chế biến. Ngay tuần khởi động dự án thí điểm, một hội thảo đã được tổ chức, tiếp sau đó là các chuyến đi thực tế đến các vùng nuôi và thực hành gắn mã vạch cho tôm thu hoạch để theo dõi ở cấp độ người nuôi và các nhà nậu vựa tôm. Những hướng dẫn ở cấp các nhà chế biến về cách nhận và chuyển mã số được thực hiện bằng điện tử. Việc truy xuất lại các sản phẩm với mã vạch riêng cũng được giải thích và chỉ dẫn, được trực tiếp quan sát cách kết nối internet trực tuyến.
Dự án cũng tổ chức các buổi thảo luận và đánh giá tại một hội thảo hoàn thiện chương trình với các nhóm thành phần tham gia tương tự như trong cuộc hội thảo khởi động.
Nhu cầu phải có hệ thống TXNG
Hiện nay, việc thực hiện hệ thống TXNG sản phẩm tại các công ty chế biến của Inđônêxia còn rất lẻ tẻ và biến đổi khác nhau tùy theo cơ chế và phương pháp. Trong một số trường hợp, trình độ nhận thức về TXNG ở các khâu trong toàn bộ chuỗi cung cấp (như người nuôi và các nậu vựa) còn thấp.
Luật pháp ở hầu hết các nước, ví dụ như EU và Mỹ đều quy định rằng các công ty phải trang bị hệ thống TXNG theo cấp độ “một bước trước và một bước sau”. Về mặt luật pháp, động cơ chính của TXNG là an toàn thực phẩm. Đối với các nhà XK thủy sản, vấn đề chính của TXNG là quản lý rủi ro. Mối quan tâm của cơ quan quản lý nhà nước Inđônêxia là đảm bảo XK thủy sản không được gây ra hậu quả cảnh báo nhanh ở các nước NK sản phẩm, và vì vậy TXNG trong điều kiện này là một phần của an toàn thực phẩm và chất lượng sản phẩm.
Mục tiêu của dự án hệ thống TXNG điểm là đánh giá việc thực hiện hệ thống TXNG được đề xuất trong chuỗi cung ứng tôm nuôi bằng cách nhận diện những thách thức và những khó khăn mà người nuôi, các nậu vựa và các nhà chế biến đang phải đối mặt, cũng như xác định các vùng nuôi cần phải nâng cấp.
Lấy mẫu và thu hoạch tại trại nuôi
Trước khi thu hoạch, tiến hành lấy mẫu tôm để kiểm tra kích cỡ. Khối lượng lấy mẫu điển hình là 10 kg tôm, kết quả đặt ra là 50-60con/kg.
Hoạt động thu hoạch tôm diễn ra tại trại nuôi theo cách rất truyền thống, nhưng lại đạt tiêu chuẩn tốt về mặt vệ sinh.
Thu hoạch tôm ở vùng Makassar được thực hiện theo cách cũ, công nhân dùng lưới rải theo mép của ao nuôi. Khi rải thức ăn, tôm sẽ bị thu hút về phía bờ.
Dỡ tôm khỏi lưới và chứa chúng trong rổ nhựa sau đó chuyển sang thùng xốp (20kg) để vận chuyển đến địa điểm nậu vựa, trong trường hợp này họ đóng trong phạm vi cách trại nuôi khoảng 400m.
Để phục vụ cho dự án thí điểm, T-label (nhãn chữ T) chứa T-code (mã số T) hay mã số TXNG, được dán vào T-form (Biểu mẫu T) của người nuôi (trong phần đầu ra) và giao cho nậu vựa với đầu ra tôm chân trắng (loài tôm). .
Lẽ ra tất cả các thùng xốp trắng được dán nhãn T-label, nhưng do người nuôi và nậu vựa liên kết với nhau và tôm được chuyển trực tiếp, vì vậy điều này có thể là không cần thiết.
Chống mất cắp tôm
Một hiện tượng khác cần được suy xét cẩn trọng, đó là quá trình tôm được vận chuyển từ chỗ người nuôi đến nhà nậu vựa. Người nuôi tôm sống trên các đảo nằm ngoài vùng Tarakan chia sẻ mối lo ngại rằng họ đang phải liều mạng khi vận chuyển tôm đến chỗ các nậu vựa ở sâu trong đất liền. Trên đường vận chuyển, thuyền của họ có thể bị bọn cướp đột nhập và dí súng buộc phải giao tôm. Vì vậy, việc những người nuôi tôm, các nhà nậu vựa, các nhà chế biến và một số thành phần tham gia trong chuỗi cung ứng có đăng ký chính xác thì mới có thể hạn chế được tệ nạn này. Bộ chủ quản của Inđônêxia cũng đã được phản ánh về vấn đề này.
Cân và rửa tôm tại địa điểm của nậu vựa
Khi đến địa điểm của nậu vựa, tôm được chuyển sang rổ nhựa màu vàng và được cân lên, sau đó san đều thành hai, mỗi rổ 10kg để tôm đỡ bị đè và không quá nặng đối với người làm. Tôm được rửa bằng nước ngầm bơm lên và được làm mát bằng đá do nậu vựa tự sản xuất. Vệ sinh ở đây được yêu cầu ở mức tiêu chuẩn cao, nhất là vệ sinh cá nhân của nhân công. Sau khi rửa sạch, tôm sẽ được chuyển vào thùng chứa làm bằng sợi thủy tinh cách nhiệt có thể tích 2m3. Người ta xếp vào thùng ba lớp tôm xen kẽ trong 4 lớp đá theo tiêu chuẩn chứa hàng.
T-label [có chứa T- code (số mã hóa)] được dán vào thùng và một T-label tương tự được dán vào Biểu mẫu T ở phần đầu ra của nậu vựa. Biểu mẫu này cùng với Biểu mẫu T của người nuôi tôm và tôm đầu ra trong thùng chứa được vận chuyển bằng đường bộ đến các công ty chế biến.
Tiếp nhận và kiểm tra tại các nhà máy chế biến
Tại khu vực tiếp nhận của nhà máy chế biến, T-code trên nhãn dùng cho tôm chân trắng nhận được từ các nậu vựa phù hợp với các mã số trong Biểu mẫu T đi kèm.
Tiếp theo công tác kiểm tra này là việc ghi lại nhiệt độ của tôm, nếu kết quả là 30C thì được coi là vừa đủ. Trong qui trình chế biến tôm, cán bộ của nhà máy chế biến và các cán bộ của cơ quan quản lý cấp trung ương và tỉnh được nghe tóm tắt về hồ sơ truy xuất nguồn gốc FoodReg và hệ thống giám sát trong buổi họp giao ban.
Dữ liệu đầu vào được quét qua máy quét mã vạch và tự động nạp vào các biểu mẫu điện tử của hệ thống. Để vận hành một cách đầy đủ theo Hệ thống giám sát TXNG của Inđônêxia, các nhà máy chế biến được cấp tên người dùng và mật khẩu trên trang internet. Các phương tiện thiết bị khác của hệ thống được trình diễn, kể cả các ứng dụng sâu hơn của các dữ liệu đầu vào, ví dụ tạo các đối tượng mới như các loại thành phẩm, các thông số quản lý chất lượng, loại hình vận chuyển v.v…
Thảo luận và đánh giá
Vào cuối các buổi họp của dự án điểm, những thành phần tham dự từ ba địa điểm dự án được tạo cơ hội để phản ánh về nội dung và việc thực hiện các hệ thống TXNG. Ở cấp độ người nuôi và nậu vựa, điều được nhận thấy là việc thực hiện hệ thống TXNG sẽ cải thiện tình trạng của họ, họ sẽ có tính cạnh tranh hơn những thành phần mà không thực hiện bất cứ một hệ thống TXNG nào.
Việc pha trộn tôm giữa các ao, giữa những người nuôi và các nậu vựa thứ cấp khác nhau sẽ phải được quan tâm hơn và nó có thể hạn chế mức độ của TXNG. Tuy nhiên, Foodreg lý giải rằng mặc dù sự pha trộn này có thể hạn chế khả năng TXNG sản phẩm đến tận nguồn cung gốc, nhưng nếu người nuôi tôm (nậu vựa thứ cấp) và các nậu vựa sử dụng các Biểu mẫu T và T-label theo cách thủ công, họ vẫn có thể nắm được ở nhiều cấp độ xảy ra trong các hoàn cảnh thực tế. Do đó, những nguồn cung gốc bị nghi ngờ vẫn sẽ được nhận diện, mặc dù không được cụ thể. Theo quan điểm của các nhà chế biến, thành công của hệ thống T cũng phụ thuộc vào các yếu tố như giá thành và việc chấp hành kỷ luật của tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng.
Một số kiến nghị đã được nêu lên, như T-label phải được thiết kế sao cho mọi người có thể đọc đúng phần nhận dạng, để tránh việc sử dụng các mã số không đúng. Đồng thời, T-label (nhãn T) dành cho người nuôi, người cung ứng và nhà chế biến với các màu khác nhau sẽ thuận lợi hơn cho việc nhận diện nhanh và dễ dàng. Những thông tin bổ sung trên nhãn liên quan đến loài rất đáng quan tâm. Mã số T (T-code) quay trở về cấp độ ao được chú trọng và đòi hỏi một mã số truy xuất nguồn gốc riêng.
Chính phủ Inđônêxia đảm bảo việc bắt buộc đăng ký theo hệ thống T sẽ được thực hiện đúng thời gian. Mỗi thành viên tham gia sẽ nhận được một mã số riêng sau khi đăng ký và sẽ nhận/chuyển giao các mã số T từ/ đến các mối liên kết khác trong chuỗi cung ứng.
Thành công của dự án điểm
Nhìn chung dự án thí điểm của Hệ thống giám sát TXNG được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực đều thành công. Những thành phần tham gia đã hiểu biết về dự án thử nghiệm (có sự kết hợp hệ thống giám sát điện tử và giấy tờ thủ công) và những hạn chế của hệ thống. Tuy nhiên, cũng thấy rõ sự quan tâm đặc biệt của các thành phần tham gia, nhất là các nhà chế biến trong việc tiếp tục vận hành hệ thống ngay cả sau khi dự án điểm kết thúc.
Đáng chú ý là những cải thiện ở cấp độ người nuôi và nậu vựa sẽ rất quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện thành công Hệ thống Giám sát TXNG. Do đó, chính phủ có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tài chính giúp người nuôi và các nậu vựa cải thiện cơ sở vật chất và việc vận hành hệ thống của họ. Một việc rất quan trọng khác là Bộ Nghề cá và Biển của Inđônêxia phải thiết kế một mã số T phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của nước này và cho đăng ký tất cả các đối tác trong toàn bộ chuỗi cung ứng trước khi vận hành chung trong toàn quốc trong thời gian tới.
Theo dõi hoạt động trên quy mô cả nước
Những kiến nghị cho các bước tiếp theo là cần tập trung vào việc cải tiến hệ thống, năng lực vận hành và việc giám sát thực hiện trên quy mô toàn quốc.
Trong quá trình nạp dữ liệu, nếu các kết nối internet yếu sẽ gây trở ngại cho việc thực hiện hệ thống một cách suôn sẻ, do đó đòi hỏi phải có một cơ sở hạ tầng internet tốt và xây dựng chế độ làm việc offline làm biện pháp thay thế.
Chính phủ phải giữ vai trò chủ động trong việc hỗ trợ người nuôi đối phó với những khó khăn thách thức của họ, cũng như nâng cao ý thức về tầm quan trọng của hệ thống TXNG. Trong thời gian tới, Hệ thống giám sát TXNG của Inđônêxia sẽ được triển khai ra toàn quốc, bắt đầu từ khu vực Makassar, do ở đây có tiêu chuẩn về cơ sở hạ tầng và vệ sinh tốt hơn.
Trung Mai dịch
Nguồn: Vietfish