menu search
Đóng menu
Đóng

Thị trường tôm Nhật nửa đầu năm 2008

15:19 18/11/2008
Theo một báo cáo của INFOPESCA cho FAO Globefish, xu hướng giảm tiêu thụ tôm của Nhật vẫn tiếp tục diễn ra trong nửa đầu năm nay, mặc dù đồng yên tăng giá và giá tôm vẫn ổn định trên thị trường quốc tế.

Tổng quan

Cùng với việc tổng nhập khẩu giảm, nhập khẩu tôm tháng 1-6/2008 cũng thấp hơn so với cùng kỳ năm ngoái. Kinh tế trong nước, giá lương thực và năng lượng cao cùng với đồng lương giảm đã ảnh hưởng đến tiêu dùng vốn chiếm 55% tổng thu nhập quốc nội của Nhật. Kinh tế Nhật Bản đã co lại 0,06% trong quý II năm nay, ảnh hưởng đến tiêu dùng thực phẩm trong đó có cả các sản phẩm thuỷ sản.

Tiêu dùng

Trong 6 tháng đầu năm 2008, trung bình một hộ Nhật Bản tiêu thụ 4,047kg tôm, thấp hơn 4,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Ngoại trừ tôm đông lạnh đã chế biến, nhập khẩu tất cả các loại khác đều giảm.

Lễ hội Obon hồi giữa tháng 8/2008 trùng với Olympic Bắc Kinh, rất nhiều người chỉ ngồi nhà để theo dõi sự kiện thể thao lớn này qua TV. Tuy nhiên, thương mại các sản phẩm tôm chế biến sẵn lại  rất phát đạt.

Sự chú ý của thị trường sau Obon chuyển sản Doyono Usinohi, mùa ăn cá chình hàng năm. Mùa tiêu thụ cá chình truyền thống này diễn ra vào khoảng 24/7-5/8 hàng năm, mùa người dân Nhật ăn nhiều cá chình nướng và thuỷ sản làm từ cá chình nhất.

 

Xu hướng nhập khẩu tôm tất cả các loại tại Nhật

Sản phẩm

Tháng Một - Tháng Sáu

Hàng năm

2008

2007

2006

2005

2007

2006

2005

2004

Sống

37

40

34

38

167

184

271

383

Tươi/ướp lạnh

84.126

0,4

7

1

0,4

7

19

34

Đông lạnh/Sống

84.126

85.273

95.467

100.634

207.257

299.952

232.443

241.445

Đã chế biến, đông lạnh

9.125

7.963

7.872

7.276

17.893

18.269

17.051

16.745

Đã chế biến và hun khói

93

171

241

222

324

414

422

618

Khô, ướp muối

1052

983

1234

1232

1648

2035

2008

2351

Sushi

35

92

96

155

144

204

263

341

Tổng

115.031

116.880

128.796

128.640

276.222

301.072

294.658

301.608

Nhập khẩu

Tháng 1-6/2008, Nhật nhập khẩu 115.031 tấn tôm, trị giá 101,74 tỉ yên (967,78 triệu USD) so với 116.880 tấn và 114,35 tỉ yên (940 triệu USD) vào năm ngoái. Nguồn cung tất cả các sản phẩm đều giảm trừ tôm đông lạnh đã chế biến tăng trưởng 15%. Thái Lan là nhà cung cấp tôm lớn nhất của Nhật Bản, chiếm 22% thị phần, hầu hết là các sản phẩm giá trị gia tăng.

Số lượng các sản phẩm đông lạnh sống trong tổng nhập khẩu tôm ổn định ở mức 73% nhưng nguồn cung giảm so với năm ngoái. Trong số 10 nhà cung cấp hàng đầu trong lĩnh vực này, nhập khẩu chỉ tăng từ Việt Nam và Bănglađét.

Mối quan tâm đến nhập khẩu của Nhật Bản đã giảm do doanh số đáng thất vọng thu được từ lễ hồi Obon. Rất nhiều yếu tố không thuận lợi cho nhập khẩu bao gồm cả việc tiêu thụ tôm giảm, biến động giữa đồng yên và USD, giá thị trường tăng và cạnh tranh từ thị trường phương Tây.

Giá tại thời điểm tuần cuối của tháng 8/2008 tăng ở tất cả các nguồn. Tôm sú chất lượng cao loại 16/20 không đầu từ Ấn Độ ở mức 12 USD/kg. Giá xuất khẩu từ Inđônêxia cũng cao. Chỉ có giá của Việt Nam là vẫn thấp hơn các nước khác do ngành tôm đang phải đối mặt với vấn đề dòng chảy tiền mặt và lãi suất ngân hàng.

Giữa tháng 9, giá xuất khẩu tôm sú vỏ đông lạnh từ Việt Nam giảm xuống 9,80-10,00USD/kg CFR Nhật Bản, tạo ra một đợt rối loạn trong thị trường xuất khẩu. Sở dĩ xảy ra tình trạng này chủ yếu là do tin tức về việc ngộ độc thực phẩm liên quan đến mực ống nhập khẩu từ Việt Nam.

Hưởng mức thuế nhập khẩu bằng 0, nhu cầu đối với các sản phẩm từ Inđônêxia của Nhật tăng.

Nguồn cung

Dự báo nguồn cung tôm chân trắng tại Thái Lan sẽ thấp hơn năm ngoái do rất nhiều nông dân đã chuyển sang nuôi cá rô phi và tôm sú. Liên hiệp hội nông dân nuôi tôm Thái đã lên kế hoạch chuyển 30% diện tích nuôi tôm (chủ yếu là tôm chân trắng) sang nuôi cá rô phi. Giá xuất khẩu tôm chân trắng của Thái Lan tăng so với năm ngoái.

Tháng 8/2008, mưa lớn tại các bang phía nam Ấn Độ đã gây ảnh hưởng đến hoạt động nuôi trồng và khai thác. Giá nguyên liệu tăng mặc dù tỉ giá đồng rupee của Ấn Đô giảm so với đồng USD.

 

Nhập khầu tôm đông lạnh sống của Nhật Bản từ tháng 1-6/2008

Xuất xứ

Tháng 6

Tháng 1-6

2008

2007

2008

2007

Inđônêxia

2.834

3.105

17.920

18.579

Viêt Nam

3.177

3.038

15.632

13.541

Thái Lan

2.207

2.302

10.412

10.473

Ấn Độ

1.166

1.406

9.312

9.491

Trung Quốc

1.226

1.585

7.441

8.771

Mianma

418

543

2.725

2.945

Malaixia

411

290

2.007

1.702

Philippin

280

320

1.606

1.801

Bănglađet

267

136

1.534

1.108

Ôxtrâylia

120

149

354

419

Xri Lanka

21

81

300

636

Pakittan

42

0

153

77

Papua N G

26

21

106

82

Iran

-

-

-

-

Êcuađo

72

82

350

337

Braxin

47

16

211

399

Mêhicô

12

0

199

502

Môdămbích

28

23

62

186

Mađagatca

67

115

240

268

Nga

487

931

5.248

5.038

Canađa

1.302

1.161

3.849

3788

Greenland

558

504

2.647

2.680

Na Uy

3

4

3

20

Đan Mạch

21

0

77

68

Ai len

-

-

-

-

Áchentina

32

51

407

458

Nước khác

186

150

1.331

1.994

Tổng

15.010

16.013

84.126

85.273

Vài năm qua, nguồn cung tôm sú tại thị trường Mianma và Nhật Bản tăng đáng kể. Nhưng năm nay, do ảnh hưởng của cơn bão Nargis, nuôi trồng thủy sản tại Mianma đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Dự báo

Thị trường tôm Nhật sau lễ hội diễn ra khá chậm chạp với lượng tồn kho cao. Nhu cầu tôm trong mùa lễ hội Obon rất thấp, đặc biệt là tại các hiệu ăn.

Thị trường khá bình lặng tại thời điểm này. Doanh số tại các quán ăn Nhật trong những kỳ nghỉ của năm nay thấp hơn nhiều so với các năm trước. Thu nhập khả dụng từ người tiêu dùng chủ yếu bị ảnh hưởng bởi giá dầu cao. Số lượng thực khách giảm khiến doanh số của các nhà hàng giảm. Các siêu thị tiếp tục bày bán nhiều tôm chân trắng, tuy nhiên, mối lo về việc giá xuất khẩu tăng từ các nước xuất xứ đang hình thành. Sau rất nhiều năm, năm nay, tôm sú hiện đã được các nhà bán lẻ để mắt nhiều hơn.

Xét cả cung và cầu, thị trường tôm toàn cầu dự đoán sẽ vẫn duy trì mức hiện tại cho đến cuối năm nay. Nhập khẩu vào Nhật có thể tăng để phục vụ nhu cầu cuối năm, thời điểm tiêu dùng thường tăng cao. Tuy nhiên, dự đoán về suy thoái tại Nhật Bản có thể ảnh hưởng đến tiêu thụ tôm của các hộ gia đình, điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực trở lại với thương mại trong nước và nhập khẩu.

       Hiệp định Hợp tác Kinh tế (EDA) giữa Nhật và Inđônêxia với mức thuế nhập khẩu bằng 0 (có hiệu lực từ 01/07/2008) có thể tạo thuận lợi cho xuất khẩu tôm Inđônêxia. Điều này cũng đúng với Thái Lan. Nhập khẩu của Nhật từ các nước khác có thể chậm lại và giá tăng do nguồn cung nguyên liệu giảm.

Nguồn:Vasep