menu search
Đóng menu
Đóng

Thị trường lúa gạo ngày 22/7 giữ nhịp ổn định, xuất khẩu bật tăng mạnh

16:36 22/07/2026

Thị trường lúa gạo ngày 22/7 ghi nhận sự phân hóa rõ nét giữa trong nước và xuất khẩu. Trong khi giao dịch tại Đồng bằng sông Cửu Long diễn ra chậm và giá ít biến động, thì ở kênh xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tăng mạnh, đặc biệt ở nhóm gạo thơm – tín hiệu cho thấy nhu cầu quốc tế đang cải thiện trở lại.
Tại khu vực sản xuất trọng điểm, mặt bằng giá lúa tươi tiếp tục duy trì ở mức cao. Nhu cầu thu mua lúa thơm vẫn khá tốt, giúp giá không giảm dù giao dịch chưa thực sự sôi động. Ở An Giang, lượng hỏi mua có phần khởi sắc hơn đầu tuần, tuy nhiên giá lúa nhìn chung vẫn “đứng giá”. Tại các địa phương khác như Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long hay Cà Mau, nông dân tiếp tục có xu hướng neo giá cao, trong khi thương lái mua vào thận trọng, khiến thanh khoản thị trường còn hạn chế.
Các giống lúa chủ lực như Đài Thơm 8, OM 18 và OM 5451 vẫn dao động quanh vùng 6.400 – 7.000 đồng/kg. Lúa IR 50404 và OM 34 giữ mức thấp hơn nhưng cũng không ghi nhận biến động đáng kể. Diễn biến này cho thấy nguồn cung hiện không quá dồi dào, trong khi người bán chưa chịu giảm giá, tạo trạng thái cân bằng tạm thời trên thị trường.
Ở phân khúc gạo nguyên liệu, giá tiếp tục đi ngang trong biên độ hẹp. Gạo IR 504 và OM 5451 duy trì quanh mốc trên 9.200 đồng/kg, trong khi CL 555 giữ vị trí cao nhất trong nhóm gạo nguyên liệu, phản ánh nhu cầu ổn định từ các doanh nghiệp xuất khẩu. Một số dòng gạo cấp thấp hơn như OM 380 hay Sóc thơm vẫn ở vùng giá dưới 8.000 đồng/kg, ít biến động do nhu cầu không có nhiều thay đổi.
Thị trường phụ phẩm cũng không có biến động lớn. Giá tấm thơm duy trì ở vùng cao hơn so với mặt bằng chung, trong khi giá cám ổn định, phản ánh nhu cầu chế biến và chăn nuôi vẫn giữ nhịp đều.
Ở kênh bán lẻ, giá gạo tại các chợ dân sinh gần như đi ngang. Các dòng gạo cao cấp như Nàng Nhen, Hương Lài hay gạo Nhật tiếp tục giữ mức giá cao, trong khi gạo phổ thông phục vụ tiêu dùng hàng ngày vẫn ổn định. Điều này cho thấy sức mua nội địa không có biến động lớn trong ngắn hạn.
Đáng chú ý nhất trong ngày là diễn biến trên thị trường xuất khẩu. Theo cập nhật mới nhất, giá gạo Việt Nam tăng mạnh so với cuối tuần trước. Gạo Jasmine tăng tới 33 USD/tấn, lên mức 544 – 548 USD/tấn – mức tăng khá mạnh trong thời gian ngắn. Bên cạnh đó, gạo thơm 100% tấm cũng tăng nhẹ thêm 4 USD/tấn. Riêng gạo thơm 5% tấm giữ ổn định quanh vùng 510 – 520 USD/tấn.
Sự tăng giá này được cho là xuất phát từ nhu cầu nhập khẩu cải thiện ở một số thị trường, cùng với nguồn cung trong nước không còn dồi dào sau thu hoạch. Ngoài ra, tâm lý giữ hàng chờ giá cao hơn từ phía doanh nghiệp cũng góp phần đẩy giá chào bán lên.
Trên thị trường thế giới, diễn biến lại không đồng nhất. Giá gạo Thái Lan giảm mạnh, với gạo 5% tấm giảm tới 35 USD/tấn, xuống còn khoảng 443 – 447 USD/tấn. Gạo 100% tấm của nước này cũng giảm đáng kể. Ngược lại, giá gạo Ấn Độ tăng nhẹ khoảng 9 USD/tấn ở cả hai phân khúc, nhưng vẫn duy trì lợi thế cạnh tranh nhờ mức giá thấp hơn so với Việt Nam.
Việc giá gạo Việt Nam tăng trong bối cảnh Thái Lan giảm cho thấy sự dịch chuyển nhất định về cung – cầu trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, mức chênh lệch giá giữa các nước xuất khẩu lớn cũng đồng nghĩa với áp lực cạnh tranh vẫn hiện hữu, đặc biệt ở các thị trường nhạy cảm về giá.
Bảng giá lúa gạo ngày 22/7/2026

Nhóm

Chủng loại

Giá

Lúa tươi

Đài Thơm 8

6.850 – 7.000 đ/kg

OM 5451

6.400 – 6.500 đ/kg

 

OM 18

6.800 – 7.000 đ/kg

 

IR 50404

6.100 – 6.200 đ/kg

Gạo nguyên liệu

IR 504

9.200 – 9.300 đ/kg

 

CL 555

9.600 – 9.700 đ/kg

 

OM 5451

9.300 – 9.400 đ/kg

Xuất khẩu

Jasmine

544 – 548 USD/tấn (+33)

 

Gạo thơm 5% tấm

510 – 520 USD/tấn

 

Gạo thơm 100% tấm

352 – 356 USD/tấn (+4)

Nhóm

Chủng loại

Giá

Lúa tươi

Đài Thơm 8

6.850 – 7.000 đ/kg

 

OM 5451

6.400 – 6.500 đ/kg

 

OM 18

6.800 – 7.000 đ/kg

 

IR 50404

6.100 – 6.200 đ/kg

Nguồn:Vinanet/VITIC