menu search
Đóng menu
Đóng

Thị trường lúa gạo ngày 5/3: Giao dịch chậm, thị trường duy trì ổn định

10:11 05/03/2026

Thị trường lúa gạo trong nước ngày 5/3 ghi nhận không khí mua bán khá trầm lắng. Nguồn hàng về nhỏ giọt, giao dịch diễn ra cầm chừng tại nhiều địa phương, trong khi mặt bằng giá nhìn chung ít biến động. Ở một số khu vực, giá có xu hướng điều chỉnh nhẹ, nhưng chưa tạo thành biến động đáng kể trên toàn thị trường.
 
Tại An Giang, hoạt động thu mua diễn ra chậm, lượng hàng nhập kho hạn chế. Giá các chủng loại gạo phổ biến hầu như giữ nguyên so với hôm trước. Ở khu vực chợ Sa Đéc, nhiều kho tạm thời ngưng giao dịch khiến lượng mua bán sụt giảm, giá một số mặt hàng giảm nhẹ. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), giao dịch nhỏ giọt, nguồn gạo chất lượng cao khá khan hiếm và giá có chiều hướng đi xuống.
Trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu cơ bản ổn định. Gạo Đài Thơm 8 dao động từ 9.350 – 9.600 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; OM 5451 khoảng 8.750 – 8.900 đồng/kg; IR 50404 từ 8.500 – 8.600 đồng/kg; CL 555 trong khoảng 7.950 – 8.050 đồng/kg; OM 380 dao động 7.600 – 7.700 đồng/kg; Sóc thơm khoảng 7.500 – 7.600 đồng/kg.
Tại các chợ bán lẻ, giá gạo thành phẩm tiếp tục giữ ổn định. Gạo thường phổ biến ở mức 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo thơm Thái từ 20.000 – 22.000 đồng/kg; Hương Lài khoảng 22.000 đồng/kg; Nàng Nhen vẫn thuộc nhóm cao nhất với giá xấp xỉ 28.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp ít biến động. Nếp IR 4625 tươi dao động 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô từ 9.500 – 9.700 đồng/kg; nếp khô 3 tháng ở mức 9.600 – 9.700 đồng/kg. Các mặt hàng phụ phẩm như cám và tấm cũng giữ giá ổn định, lần lượt quanh 7.950 – 8.150 đồng/kg và 7.500 – 7.600 đồng/kg.
Thị trường lúa tươi trong nước ghi nhận giao dịch chững lại tại nhiều địa phương như Cần Thơ, Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh. Riêng tại An Giang, lúa IR 50404 tươi được thu mua ở mức 5.400 – 5.500 đồng/kg; OM 5451 khoảng 5.800 – 6.000 đồng/kg; OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.500 – 6.700 đồng/kg; OM 4218 khoảng 6.200 – 6.400 đồng/kg; Nàng Hoa từ 6.000 – 6.200 đồng/kg; OM 34 tươi 5.200 – 5.400 đồng/kg. Lúa Nàng Nhen khô duy trì mức cao khoảng 20.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, theo số liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo Việt Nam tiếp tục duy trì ở mức khá cao. Gạo Jasmine được chào bán quanh 431 – 435 USD/tấn; gạo trắng 5% tấm ở mức 359 – 363 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động 400 – 415 USD/tấn.
So với các nước trong khu vực, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan hiện ở mức 381 – 385 USD/tấn; Ấn Độ khoảng 351 – 355 USD/tấn; Pakistan dao động 362 – 366 USD/tấn.
Báo cáo cung cầu tháng 2 của Bộ Nông nghiệp Mỹ cho thấy niên vụ 2025–2026 có tổng nguồn cung gạo toàn cầu đạt mức kỷ lục 732,6 triệu tấn nhờ tồn kho đầu kỳ tăng cao. Tuy sản lượng dự kiến đạt 541,3 triệu tấn, thấp hơn mức đỉnh của niên vụ trước, nhưng nhu cầu tiêu thụ vẫn tăng mạnh, đặc biệt tại khu vực châu Á và châu Phi. Tồn kho cuối vụ dự báo giảm nhẹ song vẫn duy trì ở mức cao, chủ yếu tập trung tại Trung Quốc và Ấn Độ.
Nhìn chung, thị trường lúa gạo trong nước ngày 5/3 tiếp tục xu hướng ổn định nhưng thiếu động lực tăng giá rõ rệt, trong khi xuất khẩu giữ được mức giá khả quan nhờ nhu cầu quốc tế duy trì tích cực.

Nguồn:Vinanet/VITIC