Trung Quốc là thị trường nhập khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 nhờ lợi thế giá cạnh tranh và chủng loại đa dạng. Tuy nhiên, tỷ trọng nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc thu hẹp từ 58,07% của 4 tháng đầu năm 2025 xuống còn 44,56% trong 4 tháng đầu năm 2026. Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong 4 tháng đầu năm 2026 đạt 2,25 triệu tấn, trị giá 1,52 tỷ USD, giảm 24,38% về lượng và giảm 19,08% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ khu vực ASEAN trong 4 tháng đầu năm 2026 đạt 658,65 nghìn tấn, trị giá 714,45 triệu USD, tăng 40,98% về lượng và 32,04% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Cơ cấu nhập khẩu sắt thép tập trung chủ yếu vào thị trường Indonesia, chiếm tỷ trọng áp đảo (87,95%) trong khu vực ASEAN, với 579,26 nghìn tấn, trị giá 652,24 triệu USD, tăng 29,76% về lượng và tăng 26,77% về trị giá so cùng kỳ năm 2025. Bên cạnh đó, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 từ các thị trường Malaysia và Thái Lan cũng tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2025.
Nhật Bản và Hàn Quốc là hai thị trường nhập khẩu ổn định các dòng thép chất lượng cao, phục vụ sản xuất công nghiệp và cơ khí chế tạo. Nhập khẩu sắt thép từ Nhật Bản 4 tháng đầu năm 2026 đạt 646,98 nghìn tấn, trị giá 433,23 triệu USD, giảm 22,65% về lượng và giảm 18,17% về trị giá so cùng kỳ năm 2025, do giá thép thép nhập khẩu từ Nhật Bản tăng 5,78% so với cùng kỳ năm 2025 và áp lực cạnh tranh từ các nguồn cung khác. Tuy nhiên, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ Hàn Quốc 4 tháng đầu năm 2026 đạt 524,88 nghìn tấn, trị giá 391,99 triệu USD, tăng 8,18% về lượng nhưng giảm 1,28% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025, nhờ lợi thế về chất lượng và giá cả cạnh tranh.
Đáng chú ý, Ấn Độ nổi lên là nguồn cung thép mới với giá cạnh tranh, góp phần đa dạng hóa thị trường nhập khẩu và tạo áp lực cạnh tranh đối với các nguồn cung thép truyền thống. Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ Ấn Độ 4 tháng đầu năm 2026 đạt 601,48 nghìn tấn, trị giá 308,12 triệu USD, tăng 12.083,09% về lượng và tăng 2.034,47% về trị giá so cùng kỳ năm 2025.
Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ Đài Loan 4 tháng đầu năm 2026 đạt 318,3 nghìn tấn, trị giá 201,06 triệu USD, tăng 7,88% về lượng và 1,27% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Đây là nguồn cung có chất lượng trung bình – khá, đáp ứng linh hoạt nhu cầu của thị trường và từng bước gia tăng thị phần.
Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường EU 4 tháng đầu năm 2026 đạt 24,86 nghìn tấn, trị giá 33,5 triệu USD, tăng 216,35% về lượng và tăng 45,98% về trị giá so cùng kỳ năm 2025, nhưng quy mô còn nhỏ nên chưa tác động đáng kể đến tổng thể thị trường. Một số thị trường như Bỉ, Hà Lan, Pháp, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Phần Lan có mức tăng đột biến do đơn hàng đặc thù, chủ yếu là các dòng thép hợp kim đặc chủng, thép kỹ thuật cao và thép phục vụ ngành cơ khí chính xác, năng lượng và chế tạo công nghệ cao.
Một số thị trường như Australia, Hoa Kỳ, Nam Phi và Thổ Nhĩ Kỳ có biến động đáng kể về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025, song quy mô còn nhỏ và mang tính bổ sung, chưa hình thành vai trò ổn định trong cơ cấu nhập khẩu thép của Việt Nam.
Một số thị trường nhập khẩu thép vào Việt Nam 4 tháng đầu năm 2026
 |
|
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Cục Hải quan
|
Nguồn:Vinanet/VITIC