menu search
Đóng menu
Đóng

Xuất khẩu điện thoại và linh kiện của Việt Nam trong quý 1/2026 đạt trên 16 tỷ USD

09:05 05/05/2026

Trong quý I/2026, kim ngạch xuất khẩu điện thoại và linh kiện của Việt Nam đạt 16,75 tỷ USD, tăng 19,3% so với cùng kỳ, cho thấy xu hướng phục hồi và tăng trưởng rõ nét của ngành sau giai đoạn trầm lắng năm 2023–2024. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ nhu cầu phục hồi tại các thị trường lớn, chu kỳ thay thế thiết bị mới, cùng với sự mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam.
 
Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục giữ vai trò áp đảo trong xuất khẩu điện thoại và linh kiện, chiếm tới gần như toàn bộ kim ngạch (trên 99%). Điều này phản ánh rõ đặc điểm của ngành điện tử Việt Nam hiện nay vẫn phụ thuộc lớn vào các tập đoàn đa quốc gia, tiêu biểu như Samsung, LG... Xu hướng này dự báo sẽ tiếp tục duy trì trong ngắn hạn, đặc biệt khi các tập đoàn lớn tiếp tục mở rộng sản xuất tại Việt Nam nhằm tận dụng lợi thế chi phí và chuỗi cung ứng.
Trong quý I/2026, cơ cấu thị trường xuất khẩu điện thoại và linh kiện của Việt Nam tiếp tục có sự phân hóa rõ nét, phản ánh xu hướng dịch chuyển thương mại và thay đổi nhu cầu tại các khu vực chủ lực.
Trung Quốc tiếp tục giữ vai trò là thị trường lớn nhất với kim ngạch đạt 3,54 tỷ USD trong quý I/2026, tăng mạnh 30,94%, qua đó nâng tỷ trọng lên 21,14%. Ngược lại, thị trường Hoa Kỳ có dấu hiệu chững lại khi kim ngạch xuất khẩu quý I giảm 2,69%, khiến tỷ trọng giảm từ 19,56% xuống còn 15,96%.
Khu vực EU tăng trưởng 5,46% trong quý I/2026, đạt 2,3 tỷ USD, song khối có sự phân hóa mạnh. Một số thị trường như Hà Lan, Đức và Thụy Điển ghi nhận tăng trưởng khá, trong khi nhiều thị trường lớn như Pháp, Tây Ban Nha và Italy lại suy giảm, phản ánh tình trạng phục hồi không đồng đều của khu vực này.
Đáng chú ý, Hàn Quốc nổi lên là thị trường tăng trưởng đột biến với kim ngạch quý I đạt 1,82 tỷ USD, tăng tới 133,24%, qua đó nâng tỷ trọng lên 10,86%. Điều này chủ yếu đến từ sự gia tăng trao đổi nội bộ giữa các tập đoàn điện tử lớn, cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực.
Tại khu vực ASEAN, xuất khẩu duy trì đà tăng trưởng tích cực với mức tăng 26,52% trong quý I, trong đó Thái Lan, Malaysia và Philippines là các thị trường tăng trưởng nổi bật. Tuy nhiên, Indonesia lại ghi nhận mức giảm đáng kể, cho thấy sự phân hóa trong nội khối.
Các thị trường khác như Nhật Bản và Canada ghi nhận mức tăng trưởng khá ổn định, trong khi Ấn Độ có xu hướng đi ngang, làm giảm tỷ trọng trong cơ cấu chung. Đáng chú ý, các thị trường mới nổi như Nam Phi, Armenia và Pê Ru ghi nhận mức tăng trưởng rất cao, cho thấy tiềm năng mở rộng thị trường ngoài các khu vực truyền thống.
Nhìn chung, cơ cấu thị trường xuất khẩu điện thoại và linh kiện của Việt Nam đang dịch chuyển theo hướng giảm dần phụ thuộc vào các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ và EU, đồng thời gia tăng nhanh tỷ trọng tại khu vực châu Á và các thị trường mới nổi, tạo nền tảng cho tăng trưởng trong thời gian tới.

Thị trường xuất khẩu điện thoại và linh kiện của Việt Nam

Thị trường

T3/2026 (Triệu USD)

3T/ 2026 (Triệu USD)

So với 3 Tnăm 2025 (%)

Tỷ trọng 3T 2026 (%)

TỔNG KN

5.601,37

16.747,91

19,30

100,00

Khối DNFDI

5.594,33

16.732,47

19,43

99,91

FTA RCEP

2.587,56

7.161,50

46,60

42,76

FTA CPTPP

843,64

2.453,76

19,82

14,65

FTA EAEU

33,85

109,77

35,48

0,66

Trung Quốc

1.195,08

3.540,20

30,94

21,14

Hoa Kỳ

833,53

2.672,35

-2,69

15,96

Khối EU

705,84

2.300,81

5,46

13,74

Áo

233,53

651,80

1,30

3,89

Hà Lan

134,77

426,79

20,84

2,55

Đức

83,02

339,29

21,44

2,03

Pháp

43,95

200,78

11,44

1,20

Tây Ban Nha

36,21

146,81

-7,71

0,88

Slovakia

32,67

141,29

-5,26

0,84

Italy

42,51

136,42

-6,08

0,81

Thụy Điển

42,37

120,71

17,35

0,72

Bồ Đào Nha

14,94

39,03

24,36

0,23

Hy Lạp

11,69

35,60

1,73

0,21

Hungary

22,90

35,11

49,35

0,21

Ba Lan

7,18

24,02

-69,54

0,14

Séc

0,11

3,16

625,31

0,02

Hàn Quốc

706,11

1.818,82

133,24

10,86

UAE

176,63

770,77

1,55

4,60

Khối Asean

318,61

761,41

26,52

4,55

Thái Lan

141,71

331,98

56,04

1,98

Malaysia

63,56

141,63

25,70

0,85

Singapore

36,62

102,06

18,72

0,61

Philippines

54,30

99,98

20,39

0,60

Indonesia

22,42

85,76

-20,13

0,51

Nhật Bản

257,62

707,08

40,43

4,22

Ấn Độ

221,98

587,24

-0,12

3,51

Anh

86,61

410,60

12,39

2,45

Mexico

120,10

303,64

-5,51

1,81

Australia

89,64

277,79

15,53

1,66

Canada

88,07

250,04

27,81

1,49

Ả Rập Xê Út

52,94

212,28

6,18

1,27

Hồng Kông

81,56

199,23

-17,89

1,19

Armenia

62,81

196,42

69,46

1,17

Nam Phi

83,99

168,46

93,75

1,01

Brazil

70,16

163,18

1,53

0,97

Thổ Nhĩ Kỳ

49,89

149,08

18,31

0,89

Đài Loan

60,09

133,74

17,39

0,80

Chile

41,41

118,61

-3,66

0,71

Kyrgyzstan

33,85

109,77

35,48

0,66

Israel

23,50

95,79

-2,98

0,57

Pê Ru

39,50

86,11

95,70

0,51

Colombia

22,66

66,04

51,64

0,39

Achentina

0,08

65,21

-50,63

0,39

New Zealand

20,51

56,20

0,67

0,34

Pakistan

12,68

50,41

39,86

0,30

Panama

12,45

42,05

-2,48

0,25

Ai Cập

8,91

22,47

32,28

0,13

Bangladesh

2,55

7,21

695,76

0,04

Algeria

7,03

7,03

 

0,04

 


Nguồn:Vinanet/VITIC