Khu vực thị trường thuộc FTA RCEP tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu gạo của Việt Nam với 2,51 triệu tấn, trị giá 1,13 tỷ USD, tăng 20,37% về lượng và tăng 8,38% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực Đông Nam Á đạt 1,93 triệu tấn, tương đương 843 triệu USD, tăng 12,84% về lượng nhưng giảm 1,3% về kim ngạch.
Philippines tiếp tục là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 với 1,69 triệu tấn, tương đương 740,48 triệu USD, tăng 13,62% về lượng và tăng 1,24% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước, chiếm gần 47% tổng lượng xuất khẩu gạo của cả nước.
Trung Quốc (Đại lục) đứng thứ hai với 562.882 tấn, trị giá 280,96 triệu USD, tăng mạnh 55,67% về lượng và tăng 53,82% về kim ngạch. Ghana đứng thứ ba với 233.063 tấn, tương đương 118,13 triệu USD, song giảm 23,41% về lượng và giảm 32,48% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.
Bờ Biển Ngà đạt 225.520 tấn, tương đương 89,23 triệu USD, giảm mạnh 48,8% về lượng và giảm 57,6% về kim ngạch. Trong khi đó, Malaysia nhập khẩu 181.470 tấn gạo từ Việt Nam, trị giá 73,45 triệu USD, tăng 34,27% về lượng và tăng nhẹ 0,53% về kim ngạch.
Một số thị trường ghi nhận mức tăng trưởng mạnh như Mozambique đạt 34.437 tấn, trị giá 16,92 triệu USD, tăng 37,07% về lượng và tăng 10,48% về kim ngạch; Ả Rập Xê Út đạt 16.048 tấn, tương đương 9,34 triệu USD, tăng 54,74% về lượng và tăng 30,9% về kim ngạch. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Iraq tăng đột biến lên 25.250 tấn, tương đương 13,88 triệu USD.
Ở chiều ngược lại, nhiều thị trường giảm mạnh như Indonesia chỉ đạt 4.386 tấn, giảm 73,17% về lượng và giảm 74,16% về kim ngạch; Senegal giảm tới 98,08% về lượng và 97,34% về kim ngạch; Thổ Nhĩ Kỳ giảm 92,8% về lượng và giảm 93,16% về kim ngạch. Xuất khẩu sang Bangladesh cũng giảm rất mạnh tới 99,83% về lượng.
Đối với các thị trường thuộc CPTPP, xuất khẩu gạo đạt 242.443 tấn, tương đương 106,59 triệu USD, tăng 18,33% về lượng nhưng giảm 8,47% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu sang thị trường EU đạt 8.803 tấn, trị giá 6,72 triệu USD, giảm 22,54% về lượng và giảm 24,07% về kim ngạch.
Xuất khẩu gạo sang khu vực Đông Nam Á tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu thị trường của Việt Nam, đạt 1,93 triệu tấn, tương đương 843 triệu USD, tăng 12,84% về lượng nhưng giảm 1,3% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu sang thị trường FTA RCEP đạt 2,51 triệu tấn, tương đương 1,13 tỷ USD, tăng 20,37% về lượng và tăng 8,38% về kim ngạch. Xuất khẩu sang thị trường FTA CPTPP đạt 242.443 tấn, tương đương 106,59 triệu USD, tăng 18,33% về lượng nhưng giảm 8,47% về kim ngạch. Trong khi đó, xuất khẩu sang thị trường EVFTA đạt 8.803 tấn, tương đương 6,72 triệu USD, giảm 22,54% về lượng và giảm 24,07% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.
Nhìn chung, trong 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gạo của Việt Nam giảm nhẹ về lượng nhưng giảm mạnh hơn về kim ngạch do giá xuất khẩu bình quân giảm so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, nhu cầu tại nhiều thị trường chủ lực vẫn duy trì tích cực, đặc biệt là Philippines và Trung Quốc, góp phần hỗ trợ xuất khẩu gạo của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh trên thị trường thế giới ngày càng gia tăng.
Xuất khẩu gạo 4 tháng năm 2025
(Tính toán từ số liệu công bố ngày 12/4/2026 của CHQ)
|
Thị trường
|
4 tháng năm 2026
|
So với
4T/2025 (%)
|
Tỷ trọng (%)
|
|
Lượng
(tấn)
|
Trị giá (USD)
|
Lượng
|
Trị giá
|
Lượng
|
Trị giá
|
|
TỔNG CHUNG
|
3.373.506
|
1.580.001.934
|
-1,59
|
-10,49
|
100
|
100
|
|
FTA RCEP-15 thị trường
|
2.508.400
|
1.133.747.757
|
20,37
|
8,38
|
71,76
|
1,85
|
|
ĐÔNG NAM Á
|
1.930.031
|
842.997.082
|
12,84
|
-1,3
|
53,35
|
5,62
|
|
Philippines
|
1.691.296
|
740.480.967
|
13,62
|
1,24
|
46,87
|
35,04
|
|
Trung Quốc (Đại lục)
|
562.882
|
280.959.005
|
55,67
|
53,82
|
17,78
|
1,22
|
|
Ghana
|
233.063
|
118.125.706
|
-23,41
|
-32,48
|
7,48
|
68,64
|
|
FTA CPTPP-11 thị trường
|
242.443
|
106.591.516
|
18,33
|
-8,47
|
6,75
|
0,41
|
|
Bờ Biển Ngà
|
225.520
|
89.233.642
|
-48,8
|
-57,6
|
5,65
|
44,59
|
|
Malaysia
|
181.470
|
73.447.276
|
34,27
|
0,53
|
4,65
|
3,43
|
|
Singapore
|
45.082
|
23.042.963
|
-17,5
|
-28,26
|
1,46
|
1,09
|
|
Mozambique
|
34.437
|
16.923.882
|
37,07
|
10,48
|
1,07
|
42,84
|
|
Iraq
|
25.250
|
13.881.500
|
24,900,00
|
16,753,43
|
0,88
|
15,9
|
|
Hồng Kông (Trung Quốc)
|
16.930
|
10.108.015
|
-15,04
|
-18,73
|
0,64
|
0,15
|
|
Australia
|
15.487
|
9.791.670
|
30,19
|
5,23
|
0,62
|
0,38
|
|
Mỹ
|
12.912
|
9.492.451
|
9,56
|
-9,97
|
0,6
|
0,02
|
|
Ả Rập Xê Út
|
16.048
|
9.336.050
|
54,74
|
30,9
|
0,59
|
1,7
|
|
Các tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất
|
13.455
|
8.156.456
|
-34,61
|
-40,16
|
0,52
|
0,54
|
|
(EU) FTA EVFTA-27 thị trường
|
8.803
|
6.721.413
|
-22,54
|
-24,07
|
0,43
|
0,03
|
|
Đài Loan (Trung Quốc)
|
7.999
|
4.293.249
|
2,5
|
-4
|
0,27
|
0,18
|
|
Campuchia
|
7.675
|
4.044.055
|
-51,49
|
-60,11
|
0,26
|
0,2
|
|
Hà Lan
|
3.521
|
2.733.880
|
-18,85
|
-19,78
|
0,17
|
0,05
|
|
Ba Lan
|
3.049
|
2.311.108
|
-33,96
|
-35,42
|
0,15
|
0,17
|
|
Nam Phi
|
4.143
|
2.144.457
|
52,2
|
18,58
|
0,14
|
0,54
|
|
Indonesia
|
4.386
|
1.897.430
|
-73,17
|
-74,16
|
0,12
|
0,09
|
|
FTA EAEU-5 thị trường
|
1.931
|
1.219.993
|
-8,96
|
-12,29
|
0,08
|
0,13
|
|
Nga
|
1.931
|
1.219.993
|
-8,96
|
-12,29
|
0,08
|
0,17
|
|
Pháp
|
1.460
|
1.115.988
|
-5,38
|
-11,47
|
0,07
|
0,08
|
|
Senegal
|
1.576
|
682.608
|
-98,08
|
-97,34
|
0,04
|
2,67
|
|
Ukraine
|
1.021
|
665.908
|
246,1
|
186,16
|
0,04
|
2,36
|
|
Tây Ban Nha
|
692
|
492.303
|
-14,67
|
-12,1
|
0,03
|
0,03
|
|
Thổ Nhĩ Kỳ
|
737
|
427.632
|
-92,8
|
-93,16
|
0,03
|
0,06
|
|
Chile
|
282
|
225.216
|
-91,1
|
-88,49
|
0,01
|
0,05
|
|
Angola
|
345
|
154.563
|
14,24
|
-19,69
|
0,01
|
0,84
|
|
Bangladesh
|
179
|
124.464
|
-99,83
|
-99,75
|
0,01
|
0,04
|
|
Brunây
|
122
|
84.391
|
454,55
|
286,41
|
0,01
|
0,06
|
|
Cộng hòa Tanzania
|
130
|
79.950
|
-87,5
|
-88,04
|
0,01
|
0,27
|
|
Bỉ
|
81
|
68.134
|
50
|
52,38
|
0
|
0,01
|