menu search
Đóng menu
Đóng

Xuất khẩu khối FDI 5 tháng đầu năm 2026 - Nhóm ngành công nghệ cao giữ vai trò chủ lực

09:11 13/07/2026

Theo thống kê của Cục Hải quan, xuất khẩu hàng hoá của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 5/2026 đạt 37,84 tỷ USD, tăng 4,68% so với tháng 4/2026 và tăng 22,25% so với tháng 5/2025.
 
Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hàng hoá của khối doanh nghiệp FDI đạt 171,47 tỷ USD, tăng 24,71% so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy khu vực FDI tiếp tục đóng vai trò chủ lực trong tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt ở các ngành công nghệ cao, điện tử, cơ khí chế tạo và sản phẩm công nghiệp chế biến.
+ Nhóm điện tử: Các nhóm hàng điện tử tiếp tục đóng vai trò trụ cột trong cơ cấu xuất khẩu của khối FDI.
Nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của khu vực FDI với kim ngạch xuất khẩu trong tháng 5/2026 đạt 13,33 tỷ USD, tăng 11,33% so với tháng 4/2026 và tăng tới 48,04% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nhóm hàng đạt 55,81 tỷ USD, tăng 47,09% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là nhóm hàng đóng góp lớn nhất vào mức tăng trưởng chung của khu vực FDI, phản ánh xu hướng mở rộng sản xuất của các tập đoàn điện tử đa quốc gia tại Việt Nam cũng như sự phục hồi mạnh của nhu cầu thiết bị điện tử, trung tâm dữ liệu, máy chủ, trí tuệ nhân tạo (AI) và bán dẫn trên thị trường thế giới.
Bên cạnh đó, xuất khẩu điện thoại và linh kiện trong tháng 5/2026 đạt 5,08 tỷ USD, tăng 11,94% so với tháng 4/2026 và tăng 11,09% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu điện thoại và linh kiện đạt 26,35 tỷ USD, tăng 18,08%. Mặc dù tốc độ tăng thấp hơn nhóm máy tính, điện thoại vẫn là một trong những trụ cột xuất khẩu quan trọng của khu vực FDI.
Xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng trong tháng 5/2026 đạt 5,81 tỷ USD, tăng 1,84% so với tháng 4/2026 và tăng 21,37% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác đạt 25,69 tỷ USD, tăng 24,08% so với cùng kỳ năm 2025. Điều này cho thấy nhu cầu đầu tư máy móc và thiết bị sản xuất trên thế giới tiếp tục cải thiện.
Xuất khẩu nhóm máy ảnh, máy quay phim và linh kiện trong tháng 5/2026 đạt 659,9 triệu USD, tăng 2,45% so với tháng 4/2026 và tăng 23,51% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nhóm máy ảnh, máy quay phim và linh kiện đạt 3,37 tỷ USD, tăng 15,98% so với cùng kỳ năm 2025, tiếp tục hưởng lợi từ xu hướng chuyển dịch sản xuất thiết bị quang học và cảm biến sang Việt Nam.
Nhìn chung, riêng ba nhóm hàng điện tử lớn (máy vi tính, điện thoại và máy móc thiết bị) trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 107,84 tỷ USD, chiếm 62,89% tổng kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI, tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao.
+ Nhóm công nghiệp chế biến: Nhiều mặt hàng công nghiệp chế biến tiếp tục ghi nhận tăng trưởng khá.
Xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng trong tháng 5/2026 đạt 1,42 tỷ USD, giảm 6,6% so với tháng 4/2026 nhưng tăng 16,56% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 6,86 tỷ USD, tăng 18,71% so với cùng kỳ năm 2025. Điều này phản ánh nhu cầu nhập khẩu linh kiện ô tô và thiết bị vận tải của các thị trường lớn vẫn duy trì tích cực.
Xuất khẩu sản phẩm từ chất dẻo trong tháng 5/2026 đạt 517,55 triệu USD, giảm 4,15% so với tháng 4/2026 nhưng tăng 7,88% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sản phẩm từ chất dẻo đạt 2,45 tỷ USD, tăng 14,33% so với cùng kỳ năm 2025
Xuất khẩu dây điện và dây cáp điện trong tháng 5/2026 đạt 452,36 triệu USD, tăng 5,53% so với tháng 4/2026 và tăng 25,27% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu dây điện và dây cáp điện đạt 1,95 tỷ USD, tăng 20,41% so với cùng kỳ năm 2025.
Xuất khẩu xơ, sợi dệt trong tháng 5/2026 đạt 317,39 triệu USD, tăng 2,87% so với tháng 4/2026 và tăng 19,34% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu xơ, sợi dệt đạt 1,45 tỷ USD, tăng 10,91% so với cùng kỳ năm 2025.
Xuất khẩu chất dẻo nguyên liệu trong tháng 5/2026 đạt 351,67 triệu USD, giảm 5,04% so với tháng 4/2026 nhưng tăng 109,27% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu chất dẻo nguyên liệu đạt 1,25 tỷ USD, tăng 88,87% so với cùng kỳ năm 2025, phản ánh nhu cầu nguyên liệu đầu vào của khu vực sản xuất trong khu vực và trên thế giới đang phục hồi nhanh.
Một số ngành vật liệu khác trong 5 tháng đầu năm 2026 cũng ghi nhận mức tăng cao so với cùng kỳ năm 2025 như: Hóa chất (tăng 30,26%), thức ăn gia súc (tăng 58,9%), đá quý và kim loại quý (tăng 49,47%), giấy và sản phẩm giấy (tăng 15,88%), sản phẩm từ cao su (tăng 17,59%), thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh (tăng 19,39%).
+ Nhóm dệt may, da giày: Xuất khẩu hàng dệt may của khu vực FDI trong tháng 5/2026 đạt 2,06 tỷ USD, tăng 3,09% so với tháng 4/2026 nhưng giảm 1,56% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hàng dệt may của khu vực FDI đạt 9,60 tỷ USD, tăng 3,28% so với cùng kỳ năm 2025. Điều này cho thấy ngành dệt may vẫn gặp khó khăn do nhu cầu tại các thị trường Hoa Kỳ và EU phục hồi chậm, trong khi áp lực cạnh tranh về giá ngày càng gia tăng.
Xuất khẩu giày dép của khu vực FDI trong tháng 5/2026 đạt 1,79 tỷ USD, giảm 4,55% so với tháng 4/2026 nhưng tăng 0,38% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu giày dép của khu vực FDI đạt 8,03 tỷ USD, tăng 1,90% so với cùng kỳ năm 2025. Mức tăng khiêm tốn phản ánh sức mua tại các thị trường lớn chưa phục hồi mạnh.
Xuất khẩu túi xách, ví, vali, mũ và ô dù trong tháng 5/2026 đạt 284,84 triệu USD, giảm 11,79% so với tháng 4/2026 và giảm 6,72% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu túi xách, ví, vali, mũ và ô dù đạt 1,38 tỷ USD, tăng 7,24% so với cùng kỳ năm 2025.
Nhìn chung nhóm hàng dệt may, da giày vẫn đang phục hồi chậm hơn đáng kể so với nhóm điện tử do sức mua tại Hoa Kỳ và châu Âu chưa phục hồi hoàn toàn, đồng thời áp lực cạnh tranh từ Bangladesh, Ấn Độ và Indonesia ngày càng lớn.
+ Xuất khẩu nông sản: Một số mặt hàng nông sản xuất khẩu của khối FDI ghi nhận diễn biến trái chiều.
Xuất khẩu cà phê trong tháng 5/2026 đạt 265,95 triệu USD, giảm 19,36% so với tháng 4/2026 và giảm 29,67% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cà phê đạt 1,61 tỷ USD, giảm 3,47% so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu do nguồn cung trong nước giảm sau niên vụ thu hoạch, trong khi giá thế giới biến động mạnh.
Xuất khẩu hạt tiêu trong tháng 5/2026 đạt 48,66 triệu USD, giảm 7,23% so với tháng 4/2026 và giảm 21,29% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hạt tiêu đạt 219,28 triệu USD, tăng 3,71% so với cùng kỳ năm 2025.
Ngược lại, xuất khẩu hạt điều trong tháng 5/2026 đạt 67,27 triệu USD, tăng 6,48% so với tháng 4/2026 và tăng 10,36% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hạt điều đạt 258,47 triệu USD, tăng 25,51% so với cùng kỳ năm 2025, nhờ nhu cầu nhập khẩu ổn định tại Hoa Kỳ, EU và Trung Đông.
Xuất khẩu rau quả trong tháng 5/2026 đạt 80,39 triệu USD, giảm 7,91% so với tháng 4/2026 và giảm 1,73% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu rau quả đạt 412,13 triệu USD, tăng 26,79% so với cùng kỳ năm 2025, phản ánh nhu cầu tiêu thụ trái cây nhiệt đới tiếp tục tích cực.
+ Ngành gỗ và thép: Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tiếp tục gặp nhiều khó khăn do thị trường nhà ở tại Hoa Kỳ và châu Âu phục hồi chậm. Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong tháng 5/2026 đạt 675,5 triệu USD, giảm 6,06% so với tháng 4/2026 và giảm 4,72% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3,17 tỷ USD, giảm 1,15% so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy thị trường nội thất thế giới vẫn chưa phục hồi hoàn toàn.
Xuất khẩu sản phẩm từ sắt thép trong tháng 5/2026 đạt 326,2 triệu USD, giảm 7,48% so với tháng 4/2026 nhưng tăng 8,98% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sản phẩm từ sắt thép đạt 1,58 tỷ USD, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm 2025, do nhu cầu các sản phẩm chế biến sâu cải thiện.
Ngược lại, xuất khẩu sắt thép các loại trong tháng 5/2026 đạt 266,85 triệu USD, giảm 3,08% so với tháng 4/2026 và giảm 10,41% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sắt thép các loại đạt 1,26 tỷ USD, giảm 7,45% so với cùng kỳ năm 2025. Điều này cho thấy xuất khẩu thép nguyên liệu vẫn chịu áp lực từ tình trạng dư cung toàn cầu, giá thép thế giới ở mức thấp và xu hướng gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại tại nhiều thị trường.
Xuất khẩu hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026

 VITIC tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan

Nguồn:Vinanet/VITIC