Về sản lượng Việt Nam đứng thứ 4, với 131.615 tấn, sau Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia.
Thông thường số liệu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc - FAO thống kê chậm hơn so với năm hiện tại là 2 năm.
Giá trị xuất khẩu đã hình thành xu thế tăng liên tục, tuy nhiên sản lượng đạt đỉnh vào năm 2005 với hơn 184 ngàn tấn, năm 2006 giảm xuống hơn 131 ngàn tấn.
Giá xuất khẩu bình quân trong 5 năm trở lại đã tăng từ 5,96 lên 9,53 USD/kg, đây là nguyên nhân đẩy giá trị xuất khẩu tôm sú của Việt Nam đứng đầu thế giới. Giải thích về điều này có thể do Việt Nam xuất khẩu tôm cỡ lớn, nên được giá hơn.
Cũng theo số liệu công bố của FAO, năm 2006 Việt Nam đứng thứ 8 thế giới về xuất khẩu thủy sản.
Tôm sú hiện là sản phẩm xuất khẩu chủ lực và dẫn đầu về giá trị xuất khẩu trong số các mặt hàng thủy sản của Việt Nam, tuy nhiên lại đang bị cạnh tranh mạnh bởi tôm thẻ chân trắng. Loại tôm này, có năng suất cao, chất lượng tương đương mà giá thành nuôi lại rẻ hơn, tuy nhiên lại dễ mắc bệnh.
Tốc độ tăng của xuất khẩu tôm cũng đã chậm hơn mặt hàng cá tra, basa, trong năm 2008.
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam cho biết: Năm 2008, Việt Nam đã nhập hơn 73 loài thủy sản từ nước ngoài với kim ngạch 300 triệu USD.
Trong 5 mặt hàng nhập khẩu nhiều nhất theo thứ tự là cá ngừ 81 triệu đô la Mỹ, cá hồi 30 triệu đô la Mỹ, tôm đông lạnh các loại 21 triệu đô la Mỹ, tôm thẻ đông lạnh 19 triệu đô la Mỹ và cá đông lạnh các loại 18 triệu đô la Mỹ.
Thậm chí nhiều mặt hàng thủy sản mà Việt Nam có thế mạnh trong nuôi trồng và đánh bắt như mực, cá nục, nghêu, tôm hùm, cá cơm, cá rô phi... đều có nhập khẩu không ít thì nhiều.
Năm quốc gia và vùng lãnh thổ xuất khẩu thủy sản vào Việt Nam nhiều nhất là Nhật, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc và Indonesia.
Nguồn:Vinanet