Điểm nổi bật trong xuất nhập khẩu Việt - Trung thời gian qua, đó là sự tăng trưởng mạnh mẽ cả về tốc độ lẫn quy mô của nhóm sản phẩm thực vật xuất sang Trung Quốc. Nửa đầu năm nay, sản phẩm thực vật, trong đó có trái cây, sắn, tinh bột sắn tăng trưởng 52,6%, kim ngạch đạt 416,8 triệu USD, chiếm tỷ trọng tới 19,8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc trong cùng kỳ. Đây là tốc độ tăng trưởng hết sức ấn tượng.
Những mặt hàng xuất khẩu sang Trung Quốc đạt kim ngạch cao 6 tháng đầu năm 2009
|
Mặt hàng |
Tháng 6 |
6 tháng |
|
Lượng (tấn) |
Trị giá (USD) |
Lượng (tấn) |
Trị giá (USD) |
|
Hàng thuỷ sản |
|
6.663.677 |
|
44.602.386 |
|
Hàng rau quả |
|
4.642.289 |
|
20.354.863 |
|
Hạt điều |
2.661 |
11.660.064 |
16.472 |
69.467.246 |
|
Sắn và sản phẩm từ sắn |
228.424 |
40.229.394 |
2.175.943 |
322.374.608 |
|
Than đá |
1.860.645 |
83.615.951 |
10.147.145 |
422.741.950 |
|
Dầu thô |
|
|
528.358 |
188.712.526 |
|
Xăng dầu các loại |
13.933 |
8.166.729 |
68.850 |
33.625.344 |
|
Quặng và khoáng sản khác |
101.459 |
10.447.647 |
434.011 |
31.164.271 |
|
Cao su |
43.635 |
64.286.904 |
173.124 |
245.166.853 |
|
sản phẩm từ cao su |
|
3.171.474 |
|
15.568.074 |
|
Gỗ và sản phẩm gỗ |
|
18.208.190 |
|
57.546.718 |
|
Hàng dệt may |
|
5.203.059 |
|
21.305.436 |
|
Giày dép |
|
9.485.984 |
|
45.719.185 |
|
Thuỷ tinh và sản phẩm từ thuỷ tinh |
|
4.839.535 |
|
28.324.970 |
|
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện |
|
26.986.094 |
|
101.758.285 |
|
Máy móc, thiết bị, dụng cụphụ tùng khác |
|
13.673.049 |
|
48.602.604 |
|
…. |
|
|
|
|
|
Tổng cộng |
|
364.391.282 |
|
1.970.401.862 |
Những mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc đạt kim ngạch cao 6 tháng đầu năm 2009
|
Mặt hàng |
Tháng 6 |
6 tháng |
|
Lượng (tấn) |
Trị giá (USD) |
Lượng (tấn) |
Trị giá (USD) |
|
Hàng rau quả |
|
8.377.099 |
|
61.960.263 |
|
Thức ăn gia súc và nguyên liệu |
|
24.352.805 |
|
72.183.466 |
|
Xăng dầu các loại |
202.395 |
115.487.726 |
1.113.580 |
507.131.577 |
|
Khí đốt hoá lỏng |
33.008 |
16.239.337 |
191.786 |
95.360.411 |
|
Hoá chất |
|
34.192.726 |
|
190.051.132 |
|
sản phẩm hoá chất |
|
28.472.447 |
|
129.748.170 |
|
Nguyên phụ liệu dược phẩm |
|
7.277.201 |
|
32.033.670 |
|
Phân bón |
119.893 |
38.316.527 |
724.862 |
238.215.858 |
|
Thuốc trừ sâu và nguyên liệu |
|
16.787.007 |
|
96.745.262 |
|
Chất dẻo nguyên liệu |
7.067 |
11.767.380 |
36.778 |
59.807.895 |
|
sản phẩm từ chất dẻo |
|
20.159.360 |
|
101.672.808 |
|
Gỗ và sản phẩm gỗ |
|
9.416.948 |
|
45.434.655 |
|
Xơ sợi dệt các loại |
4.567 |
10.198.022 |
22.527 |
49.018.920 |
|
Vải các loại |
|
138.570.078 |
|
719.357.991 |
|
Nguyên phụ liệu dệt may da giày |
|
30.210.316 |
|
185.797.977 |
|
sắt thép |
61.783 |
40.993.432 |
321.135 |
214.228.601 |
|
Sản phẩm từ sắt thép |
|
28.105.527 |
|
171.730.819 |
|
Kim loại thường khác |
3.354 |
8.464.304 |
18.533 |
43.832.291 |
|
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện |
|
134.437.707 |
|
607.519.992 |
|
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác |
|
297.062.282 |
|
1.741.117.432 |
|
Dây điện và dây cáp điện |
|
15.662.814 |
|
56.373.261 |
|
Ô tô nguyên chiéc các loại |
524 |
17.683.119 |
1.751 |
60.939.882 |
|
Linh kiệnphụ tùng ô tô |
|
43.359.538 |
|
145.040.455 |
|
Linh kiện phụ tùng xe máy |
|
10.958.896 |
|
54.962.521
|
|
Sản phẩm từ giấy |
|
6.345.251 |
|
32.730.102 |
|
….. |
|
|
|
|
|
Tổng cộng |
|
1.344.687.690 |
|
6.855.825.107 |
Bộ Công thương nhận định, vấn đề nổi cộm hiện nay trong thương mại song biên Việt Nam – Trung Quốc là vấn đề nhập siêu lớn của Việt Nam. Để từng bước cân bằng thương mại song biên, Bộ Công thương cho rằng, giải pháp quan trọng nhất là tăng cường xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc. Để làm được điều đó, trước hết Việt Nam phải đầu tư thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu sang Trung Quốc. Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc nhiều năm qua thay đổi chậm, tỷ trọng hàng nông sản, nguyên liệu thô và khoáng sản hiện vẫn chiếm rất lớn trong tổng giá trị xuất khẩu.
Thứ hai là phải đầu tư nâng cao chất lượng bản thân hàng hóa xuất khẩu. Đối với hàng nông sản cần đầu tư trồng trọt, sản xuất, chế biến theo quy trình tiêu chuẩn chất lượng tiên tiến mà nước nhập khẩu yêu cầu. Cần tăng cường đăng ký cơ sở sản xuất, bao gói, tiêu chuẩn chất lượng, mẫu mã sản phẩm xuất khẩu với các cơ quan quản lý của nước nhập khẩu. Nên hiểu là chúng ta chỉ có thể xuất khẩu được ngày càng nhiều và ổn định những sản phẩm mà thị trường nhập khẩu cần và thỏa mãn được các yêu cầu của thị trường nhập khẩu.
Thứ ba là cần đầu tư mạnh cho công tác tuyên truyền quảng bá, tiếp thị các sản phẩm xuất khẩu tại Trung Quốc theo hướng lâu dài, liên tục, chuyên sâu từng sản phẩm. Chí ít, trước mắt là cho những sản phẩm xuất khẩu trọng điểm.
(tổng hợp)
Nguồn:Vinanet