menu search
Đóng menu
Đóng

Xuất, nhập khẩu nửa đầu năm 2010: tăng tốc ngoạn mục

16:18 14/07/2010

Xuất khẩu đã tăng vượt xa so với mục tiêu đề ra. Trong khi mục tiêu tăng xuất khẩu năm nay chỉ khiêm tốn ở mức 6%, thì đến thời điểm hiện tại, với ước tính kim ngạch xuất khẩu 32,127 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm 2009, chúng ta đã hoàn thành trên 53% mục tiêu của cả năm 2010, cho nên khả năng hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch cả năm là “trong tầm tay”.
 
 


Theo số liệu thống kê xuất, nhập khẩu cho tới thời điểm này, có thể thấy một số kết quả rất đáng mừng.

-Xuất khẩu đã tăng vượt xa so với mục tiêu đề ra. Trong khi mục tiêu tăng xuất khẩu năm nay chỉ khiêm tốn ở mức 6%, thì đến thời điểm hiện tại, với ước tính kim ngạch xuất khẩu 32,127 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm 2009, chúng ta đã hoàn thành trên 53% mục tiêu của cả năm 2010, cho nên khả năng hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch cả năm là “trong tầm tay”.

-Cho dù chúng ta vẫn chưa thể kiềm chế được nhập siêu như mục tiêu đề ra, nhưng do “đoàn tàu xuất khẩu” đã tăng tốc ngoạn mục, nên nhập siêu không còn là vấn đề quá nóng bỏng như 3 năm gần đây. Cụ thể, cho dù kim ngạch nhập khẩu 6 tháng qua ước tăng tới 29,4%, nhưng cũng chỉ là 38,855 tỷ USD, nên kim ngạch nhập siêu chỉ ở mức 6,728 tỷ USD và tỷ lệ nhập siêu chỉ là 20,94%, cao hơn không đáng kể so với mục tiêu kiềm chế ở ngưỡng 20% trong năm nay và thấp hơn nhiều so với tỷ lệ nhập siêu bình quân tới 26,73% trong 3 năm gần đây. Do vậy, với việc quyết liệu kiềm chế nhập siêu hiện nay, khả năng hoàn thành được mục tiêu này cũng không phải là quá xa vời.

Bên cạnh những kết quả khả quan trong hoạt động xuất nhập khẩu 6 tháng đầu năm, chúng ta cũng phải đối mặt với những tồn tại và bất cập không nhỏ trong lĩnh vực này:

-Tuy kết quả tăng xuất khẩu rất khả quan và đây cũng chỉ là chìa khóa để kiềm chế tỷ lệ nhập siêu, nhưng xét trên bình diện toàn cầu, đây vẫn là mức tăng chưa thực sự cao so với một số nước trên thế giới.

-Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng sự suy giảm khối lượng một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là một nguyên nhân quan trọng. Sự biến thiên của giá cả trên thị trường thế giới cũng tác động tới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam.

Cụ thể, các kết quả tính toán từ các số liệu thống kê 6 tháng qua cho thấy, đối với 11 mặt hàng chủ yếu có đủ số liệu thống kê về khối lượng và giá trị, kim ngạch xuất khẩu thực tế đạt gần 8,9 tỷ USD, chỉ tăng 345 triệu USD và tăng 4,05% so với cùng kỳ năm 2009, nhưng nếu quy về giá cùng kỳ năm 2009, thì “co lại” chỉ còn gần 6,9 tỷ USD. Điều này cho thấy, trong xuất khẩu 11 mặt hàng này, chúng ta được lợi về giá gần 2 tỷ USD, tương ứng với 28,8%, nhưng cũng có nghĩa là khối lượng hàng hóa xuất khẩu trong 6 tháng qua giảm trên 1,6 tỷ USD, tương ứng với mức giảm 19,2%.

Trong khi khối lượng hàng hóa giảm mạnh khiến xuất khẩu tăng chậm như vậy, thì ở đầu vào nhập khẩu 10 mặt hàng chủ yếu, tuy kim ngạch thực tế đạt11,235 tỷ USD, tăng gần 2,5 tỷ USD và 28,4%, nhưng nếu quy về giá cùng kỳ năm 2009 lại giảm gần 330 triệu USD và 3,8%. Điều này cho thấy, trong nhập khẩu 10 mặt hàng chủ yếu này, chúng ta đã bị thiệt về giá tới trên 2,8 tỷ USD, tương ứng với 33,4% kim ngạch nhập khẩu hiện tại quy giá ùng kỳ 2009, mà khối lượng hàng hóa nhập khẩu trong 6 tháng qua đã giảm 330 triệu USD, tương ứng với mức tăng 3,8%.

Từ những phân tích trên có thể thấy, cho dù tăng xuất , giảm nhập là hiện tượng tích cực nhằm hạn chế nhập siêu, nhưng mức tăng xuất khẩu còn rất thấp, trong khi mức giảm nhập khẩu không lớn, mà những biến thiên rất mạnh trong xuất, nhập khẩu thể hiện trong các số liệu thống kê chủ yếu xuất phát từ biến động giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới. Do vậy, hạn chế nhập khẩu để giảm nhập siêu bằng cách đẩy mạnh xuất khẩu càng trên nên bức xúc hơn.

Bảng số liệu thống kê xuất, nhập khẩu tháng 6, 6 tháng năm 2010

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Xuất khẩu
 
 
 

Đơn vị: 1000 Tấn, triệu USD

 

Ước tính tháng 6 năm 2010

Ước tính 6 tháng năm 2010

% tăng, giảm 2010 so với 2009

Lượng
Trị giá
Lượng
Trị giá
Lượng
Trị giá
Tổng trị giá
 
6000
 
32127
 
15,7
 
 
 
 
 
 
 
Khu vực KT trong nước
 
2884
 
14918
 
5,7
Khu vực có vốn ĐTTTNN
 
 
 
 
 
 
Kể cả dầu thô
 
3116
 
17209
 
26,2
Trừ dầu thô
 
2700
 
14611
 
39,5
 
 
 
 
 
 
 

 Mặt hàng chủ yếu

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thủy sản
 
390
 
2016
 
14,2
Rau quả
 
38
 
219
 
4,3
Hạt điều
20
102
82
427
8,2
26,7
Cà phê
90
128
654
913
-11,8
-17,3
Chè
12
19
56
78
5,9
19,6
Hạt tiêu
15
48
75
232
9,0
46,1
Gạo
620
256
3541
1755
-4,9
0,4
Sắn và sản phẩm của sắn
160
42
1178
316
-51,4
-13,9
Than đá
2000
145
10721
788
-12,0
30,4
Dầu thô 
730
416
4278
2598
-46,3
-17,8
Xăng dầu
130
86
915
604
-15,8
26,7

Hóa chất và sản phẩm hóa chất

 
60
 
294
 
87,4
Sản phẩm từ chất dẻo
 
85
 
466
 
25,2
Cao su
55
157
237
652
-6,1
81,3

Túi xách, ví, va li, mũ, ô dù

 
95
 
455
 
18,5
Sản phẩm mây tre, cói, thảm
 
20
 
102
 
19,6
Gỗ và sản phẩm gỗ
 
260
 
1504
 
32,5
Dệt, may
 
950
 
4807
 
17,2
Giày dép
 
480
 
2279
 
10,9
Sản phẩm gốm sứ
 
22
 
152
 
16,7
Đá quý, KL quý và sản phẩm
 
350
 
1343
 
-48,5
Sắt thép
100
90
644
513
236,0
243,4
Điện tử, máy tính
 
300
 
1521
 
31,4

Máy móc, thiết bị, dụng cụ PT

 
250
 
1367
 
67,4
Dây điện và cáp điện
 
110
 
598
 
86,9

Phương tiện vận tải và phụ tùng

 
180
 
851
 
128,1
 
Nhập khẩu
 
 
 
 

Ước tính tháng 6 năm 2010

Ước tính 6 tháng năm 2010

% tăng, giảm 2010 so với 2009
Lượng
Trị giá
Lượng
Trị giá
Lượng
Trị giá
Tổng trị giá
 
7200
 
38855
 
29,4
 
 
 
 
 
 
 
Khu vực KT trong nước
 
4150
 
22707
 
18,3
Khu vực có vốn ĐTTTNN
 
3050
 
16148
 
48,9

 Mặt hàng chủ yếu

 
 
 
 
 
 
Thủy sản
 
30
 
150
 
10,7
Sữa và sản phẩm sữa
 
65
 
357
 
55,8
Rau quả
 
25
 
125
 
1,9
Lúa mỳ
210
53
1199
293
79,6
76,7
Dầu mỡ động thực vật
 
55
 
288
 
23,4
Thức ăn gia súc và NPL
 
220
 
1157
 
40,6
Xăng dầu
850
476
5313
3286
-21,7
11,6
Khí đốt hóa lỏng
65
47
301
225
-28,5
9,5
Sản phẩm khác từ dầu mỏ
 
85
 
388
 
68,0
Hóa chất
 
165
 
951
 
30,0
Sản phẩm hoá chất
 
170
 
932
 
39,1
Tân dược
 
110
 
595
 
16,2
Phân bón
130
41
1402
439
-37,1
-39,6
Thuốc trừ sâu
 
45
 
281
 
22,1
Chất dẻo
210
342
1105
1751
8,9
49,3
Sản phẩm chất dẻo
 
130
 
651
 
43,8
Cao su
22
50
142
296
16,2
77,5
Gỗ và NPL gỗ
 
100
 
497
 
32,2
Giấy các loại
90
80
455
410
-1,1
23,0
Bông
35
65
195
329
78,3
140,4
Sợi dệt
50
100
269
527
13,9
49,8
Vải
 
520
 
2528
 
27,0
Nguyên PL dệt, may, giày dép
 
250
 
1260
 
35,7
Sắt thép
650
503
4047
2751
1,4
29,1
Kim loại thường khác
65
256
314
1224
37,6
110,3
Điện tử, máy tính và LK
 
420
 
2193
 
37,8
Ô tô
 
231
 
1294
 
27,6

 Tđ: Nguyên chiếc (nghìn chiếc)

4.5
81
23.0
394
-3,9
-4,2
Xe máy
 
67
 
419
 
40,1

 Tđ: Nguyên chiếc (nghìn chiếc)

6.0
7
44.9
55
-23,1
-25,1
Phương tiện vận tải khác và PT
 
120
 
501
 
103,6

Máy móc, thiết bị, DC, PT khác

 
1100
 
6105
 
13,1

Nguồn:Vinanet