menu search
Đóng menu
Đóng

Tổng kết giá hàng hóa TG phiên 6/12: Giá hầu hết sụt giảm

10:28 07/12/2022

Phiên giao dịch vừa qua, giá vàng, cao su và cà phê tăng, trong khi dầu và nhiều mặt hàng quan trọng khác sụt giảm.
 
Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm xuống mức thấp nhất trong năm nay, với dầu Brent lần thứ hai trong năm nay đóng cửa ở mức dưới 80 USD/thùng khi các nhà đầu tư rời khỏi thị trường đầy biến động trong bối cảnh kinh tế nhiều bất ổn.
Kết thúc phiên, giá dầu Brent giảm 3,33 USD, hay 4%, xuống 79,35 USD/thùng, phiên giảm lớn nhất kể từ cuối tháng 9; dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giảm 2,68 USD, hay 3,5%, xuống 74,25 USD, mức thấp nhất trong năm nay.
Giá dầu đã giảm hơn 1% trong 3 phiên liên tiếp, mất đi hầu hết mức tăng có được từ đầu năm đến nay. Một loạt tin tức tiêu cực đã khiến các nhà đầu tư lo lắng, bất chấp xung đột đang diễn ra ở Ukraine và một trong những cuộc khủng hoảng năng lượng tồi tệ nhất trong những thập kỷ gần đây.
Matt Smith, nhà phân tích dầu hàng đầu tại công ty dịch vụ tư vấn đầu tư Kpler cho biết các nhà giao dịch đang tính toán rút lui khỏi thị trường năng lượng sau một loạt sự kiện bất lợi: Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các nhà sản xuất lớn ngoài khối (OPEC+) quyết định không cắt giảm thêm sản lượng vào ngày 4/12, Nhóm các quốc gia công nghiệp hàng đầu thế giới (G7) bắt đầu áp đặt trần giá đối với dầu Nga từ ngày 5/12, cùng sự thất thường trên thị trường chứng khoán ngày 6/12.
Thị trường cũng bị áp lực bởi ảnh hưởng của việc áp trần giá dầu 60 USD/thùng với dầu thô của Nga từ G7, Liên minh Châu Âu và Australia. Theo Smith, nhà phân tích dầu hàng đầu của Kpler, xuất khẩu dầu đường biển và sản lượng của Nga không giảm. Cùng với những lo lắng về lãi suất tăng tiếp – dầu thô đang bị cuốn theo xu hướng tránh rủi ro của các thị trường rộng lớn.
Nga cho biết họ sẽ không bán dầu cho bất kỳ ai ký giá trần. Sản lượng dầu và khí ngưng tụ của Nga trong 11 tháng năm nay tăng 2,2% so với năm trước lên 488 triệu tấn, theo Phó Thủ tướng Alexander Novak.
Eli Tesfaye, chiến lược gia thị trường cấp cao tại công ty môi giới đầu tư RJO Futures (Mỹ) nhận định giá dầu WTI có thể xuống mức 60 USD/thùng dựa trên tình hình hiện thời. Ngưỡng 80 USD/thùng sẽ là mức cao mới và ông cho rằng sẽ rất khó để giá dầu chạm tới mức nào cao hơn thế.
Hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tại Trung Quốc đã xuống mức thấp nhất trong 6 tháng và các nền kinh tế Châu Âu đã chậm lại do chi phí năng lượng cao và lãi suất đang tăng.
Chứng khoán Phố Wall cũng sụt giảm do sự không chắc chắn xung quanh chiều hướng tăng lãi suất của Fed và những tin đồn về suy thoái kinh tế sắp xảy ra.
Một yếu tố hỗ trợ giá dầu phần nào là thông tin nhiều thành phố tại Trung Quốc đang nới lỏng các hạn chế liên quan đến dich COVID-19, làm dấy lên kỳ vọng về nhu cầu gia tăng tại quốc gia nhập khẩu dầu hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, giới quan sát thận trọng rằng những động thái đó không đủ để ngăn chặn đà suy yếu của thị trường dầu.
Báo cáo hàng tuần của Viện Dầu khí Mỹ công bố vào cuối ngày 6/12 cho biết dự trữ dầu thô của Mỹ trong tuần trước sụt giảm.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng nhẹ trong bối cảnh USD biến động và lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ giảm. Các nhà đầu tư đang chờ đợi manh mối về mức tăng lãi suất của Fed.
Kết thúc phiên, giá vàng giao ngay tăng 0,1% lên 1.769,42 USD/ounce; vàng giao sau tăng 0,1% lên 1.782,4 USD/ounce. Cuộc họp cuối cùng của Fed trong năm 2022 diễn ra vào ngày 13-14/12.
Giá vàng đã giảm từ mức cao nhất 5 tháng do USD phục hồi sau khi số liệu lĩnh vực dịch vụ của Mỹ mạnh mẽ. USD đã thay đổi ít và giữ gần mức thấp nhất kể từ tháng 6 đã chạm tới trong cuối phiên này.
Ông Ole Hansen, trưởng bộ phận chiến lược hàng hóa tại ngân hàng Saxo Bank (Đan Mạch) nhận định vàng vẫn bị ràng buộc với đồng USD và đã nhận được động lực khi đồng bạc xanh yếu đi.
Ngoài ra, dù mất khoảng 2% vào thứ Hai vì số liệu kinh tế Mỹ mạnh hơn dự kiến, thị trường vẫn cho thấy còn một số động lực cơ bản hỗ trợ kim loại quý này.
Báo cáo về ngành dịch vụ của Mỹ tốt hơn mong đợi đã khiến các nhà đầu tư hoảng sợ vào thứ Hai khi làm dấy lên lo ngại rằng Fed có thể kéo dài việc tăng lãi suất. Phiên đó, giá vàng đã giảm tới 1,6% và rời khỏi mức cao nhất trong năm tháng trong khi đồng USD phục hồi. Sang phiên này, đồng bạc xanh ít thay đổi và duy trì gần mức thấp nhất kể từ tháng Sáu.
Ông Michael Hewson, trưởng bộ phận phân tích thị trường tại công ty dịch vụ tài chính CMC Markets (Vương quốc Anh) nhận định với việc Fed sẽ họp vào ngày 13-14/12, hướng đi của giá vàng có thể được xác định dựa trên cách ngân hàng trung ương Mỹ xác định hướng đi cho các đợt tăng lãi suất trong tương lai.
Giá vàng luôn nhạy cảm với các động thái điều chỉnh lãi suất của Mỹ. Bởi lãi suất tăng sẽ giúp đồng USD mạnh lên song lại khiến sức hấp dẫn của các tài sản không sinh lời như vàng giảm đáng kể.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay giảm 0,8% xuống 22,07 USD/ounce, trong khi bạch kim giảm 1% xuống 987,75 USD/ounce, palladium giảm 1,3% xuống 1.852,38 USD.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng và nhôm giảm do USD mạnh lên và sự thiếu chắc chắn về việc nới lỏng những hạn chế với Covid-19 tại Trung Quốc.
Nhôm giao sau ba tháng trên sàn giao dịch kim loại London LME giảm 0,9% xuống 2.501 USD/tấn sau khi giảm 0,9% trong phiên trước, trong khi đồng giảm 0,2% xuống 8.376 USD/tấn.
Giá nhôm đã tăng khoảng 12% kể từ đầu tháng 11, phần lớn do hy vọng nhu cầu kim loại cải thiện khi Trung Quốc nới lỏng những hạn chế về Covid. Trong khi đó, giá đồng đã chạm mức cao nhất 3 tuần trong ngày 5/12 bởi lạc quan về Trung Quốc.
Cũng gây sức ép lên thị trường là USD mạnh lên sau khi tăng mạnh nhất trong hai tuần bởi số liệu lĩnh vực dịch vụ của Mỹ mạnh mẽ làm dấy lên dự đoán lãi suất tăng tiếp.
USD mạnh khiến các hàng hóa định giá bằng đồng tiền này đắt hơn cho người mua bằng ngoại tệ khác.
Về những kim loại công nghiệp khác, giá kẽm tăng 0,3% lên 3.136,50 USD/tấn sau khi hàng tồn kho tại LME - vốn đã giảm một nửa kể từ đầu tháng 9- tiếp tục giảm.
Về các kim loại khác, giá niken LME tăng 2,1% lên 29.280 USD/tấn và thiếc tăng 1,5% lên 24.810 USD, nhưng chì giảm 1,3% xuống 2.209,50 USD.
Giá quặng sắt giảm trong phiên giao dịch biến động, do các nhà đầu tư giảm lạc quan về triển vọng tại Trung Quốc, nhà sản xuất thép hàng đầu thế giới.
Theo đó, quặng sắt kỳ hạn tháng 5/2023 trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên (Trung Quốc) lúc đóng cửa giảm 0,6% xuống 780 CNY (111,62 USD)/tấn. Quặng sắt Đại Liên lên mức cao nhất kể từ ngày 14/6 trong phiên liền trước, là 799,5 CNY, do thêm nhiều thành phố của Trung Quốc cắt giảm phong tỏa, các quy định cách ly và yêu cầu kiểm tra Covid. Tại Singapore, hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 1/2023 giảm 0,3% xuống 108 USD/tấn sau ba phiên tăng giá.
Tại Thượng Hải, thép thanh giảm 0,6%, thép cuộn cán nóng giảm 0,4%, thép không gỉ tăng 1,3%.
Vẫn có những lo lắng về khả năng số ca nhiễm Covid tăng vọt tại Trung Quốc, đặc biệt trong những tháng lạnh hơn và sau khi nới lỏng một phần những hạn chế về Covid. Mỹ và Liên minh Châu Âu đang cân nhắc thuế mới đối với thép và nhôm của Trung Quốc như một phần của nỗ lực chống lại khí thải carbon.
Trên thị trường nông sản, giá lúa mì trên sàn giao dịch Chicago lúc đóng cửa giảm sau phiên giao dịch trước đó biến động trái chiều, do nguồn cung toàn cầu dồi dào tiếp tục gây áp lực lên thị trường Mỹ.
Giá lúa mì mềm đỏ vụ đông kỳ hạn tháng 3/2023 đóng cửa giảm 10 US cent xuống 7,29 USD/bushel sau khi giảm xuống 7,23-1/2 USD, mức thấp nhất đối với hợp đồng được giao dịch nhiều nhất kể từ ngày 15/10/2021. Hợp đồng giao ngay tháng 12 giảm 10 US cent xuống 7,05-1/2 USD/bushel. Gía ngô trên sàn Chicago cũng giảm, áp lực bởi giá lúa mì, với hợp đồng ngô CBOT kỳ hạn tháng 3/2023 đóng cửa giảm 3-1/4 US cent xuống 6,37-1/4 USD/bushel.
Bộ Nông nghiệp Mỹ dự kiến dự trữ ngô cuối vụ trên toàn cầu trong năm thị trường 2022/23 ở mức 300,86 triệu tấn, tăng nhẹ so với ước tính hồi tháng 3.
Giá đậu tương tăng được hỗ trợ bởi lượng xuất khẩu mới và giá khô đậu tương mạnh khi Argentina gặp khó khăn do trồng đậu tương trong tình trạng khô hạn. Đậu tương CBOT kỳ hạn tháng 1/2023 tăng 17-1/4 US cent lên 14,55 USD/bushel.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2023 kết thúc phiên giảm 0,16 US cent, hay 0,8%, xuống 19,39 US cent/lb; đường trắng kỳ hạn tháng 3/2023 giảm 4,2 USD hay 0,8% xuống 534,9 USD/tấn.
Giá năng lượng giảm làm giảm động lực khuyến khích các nhà máy sản xuất ethanol dẫn tới sản lượng đường tăng. Các đại lý lưu ý mưa gần đây tại Trung Nam Brazil đã làm gián đoạn vụ thu hoạch mía trong khi vụ thu hoạch tại Thái Lan bắt đầu chậm lại.
Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 3/2023 kết thúc phiên tăng 0,9 US cent hay 0,6% lên 1,635 USD/lb; cà phê robusta kỳ hạn tháng 1/2023 tăng 17 USD hay 0,9% lên 1.925 USD/tấn. 
Các đại lý cho biết đồng real của Brazil mạnh lên so với USD có thể tiếp tục không khuyến khích nhà sản xuất bán ra tại nước này. Tuy nhiên, sự gia tăng liên tục trong dự trữ của sàn giao dịch dự kiến sẽ hạn chế giá cả. Trong khi đó, tồn trữ cà phê của sàn ICE ở mức 637.360 bao tính tới ngày 5/12, cao hơn nhiều mức thấp nhất 23 năm tại 382.695 bao thiết lập trong ngày 3/11/2022.
Colombia đã sản xuất 1,06 triệu bao cà phê arabica sạch loại 60 kg/bao trong tháng 11, giảm 6% so với cùng tháng năm trước do mưa nhiều.
Giá cao su Nhật Bản tăng theo xu hướng thị trường Thượng Hải do tâm lý nhu cầu tích cực khi Trung Quốc tiếp tục nới lỏng những hạn chế về Covid-19.
Hợp đồng cao su giao tháng 5/2023 trên sàn giao dịch Osaka đóng cửa tăng 3 JPY hay 1,4% lên 220,7 JPY (1,61 USD)/kg, mức cao nhất kể từ ngày 16/11; hợp đồng kỳ hạn tháng 1/2023 trên sàn Thượng Hải tăng 55 CNY lên 12.935 CNY (1.851 USD)/tấn.
Nhà máy của Volkswagen và FAW tại Thành Đô, Trung Quốc đã khôi phục sản xuất sau một thời gian ngắn tạm dừng và hai dây chuyền bị dừng tại nhà máy Chengum của nhà sản xuất ô tô này cũng đang hoạt động trở lại. Trong khi đó, chi tiêu của hộ gia đình Nhật Bản trong tháng 10 tăng tháng thứ 5 liên tiếp so với một năm trước.
Giá hàng hóa thế giới:

 

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

74,29

+0,04

+0,04%

Dầu Brent

USD/thùng

79,52

+0,17

+0,21%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

62.880,00

-2.200,00

-3,38%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

5,49

+0,02

+0,38%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

216,18

+1,27

+0,59%

Dầu đốt

US cent/gallon

292,06

+0,51

+0,17%

Dầu khí

USD/tấn

828,00

+5,75

+0,70%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

78.500,00

0,00

0,00%

Vàng New York

USD/ounce

1.785,30

+2,90

+0,16%

Vàng TOCOM

JPY/g

7.800,00

+12,00

+0,15%

Bạc New York

USD/ounce

22,39

+0,05

+0,22%

Bạc TOCOM

JPY/g

95,80

-0,60

-0,62%

Bạch kim

USD/ounce

993,12

+1,69

+0,17%

Palađi

USD/ounce

1.859,61

+7,78

+0,42%

Đồng New York

US cent/lb

382,20

+0,40

+0,10%

Đồng LME

USD/tấn

8.421,50

+30,50

+0,36%

Nhôm LME

USD/tấn

2.508,50

-14,00

-0,56%

Kẽm LME

USD/tấn

3.156,00

+30,00

+0,96%

Thiếc LME

USD/tấn

24.814,00

+368,00

+1,51%

Ngô

US cent/bushel

636,75

-0,50

-0,08%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

728,50

-0,50

-0,07%

Lúa mạch

US cent/bushel

339,75

+2,75

+0,82%

Gạo thô

USD/cwt

16,85

0,00

0,00%

Đậu tương

US cent/bushel

1.458,25

+3,25

+0,22%

Khô đậu tương

USD/tấn

446,10

+0,20

+0,04%

Dầu đậu tương

US cent/lb

61,30

+0,30

+0,49%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

847,30

+7,60

+0,91%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.487,00

+8,00

+0,32%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

163,50

+0,90

+0,55%

Đường thô

US cent/lb

19,39

-0,16

-0,82%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

208,50

+2,85

+1,39%

Bông

US cent/lb

84,79

+0,20

+0,24%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

415,10

+24,00

+6,14%

Cao su TOCOM

JPY/kg

137,40

+1,20

+0,88%

Ethanol CME

USD/gallon

2,16

0,00

0,00%

 

 

Nguồn:Vinanet/VITIC (Theo Reuters, Bloomberg)

Tags: hàng hóa