menu search
Đóng menu
Đóng

Xuất khẩu hàng dệt may quí I/2016 và những thách thức khi hội nhập

08:34 26/04/2016

Vinanet -Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong quý I/2016, xuất khẩu nhóm hàng dệt may của Việt Nam đạt 5,13 tỷ USD, tăng 5,67% so với cùng kỳ năm 2015.

Trong đó, xuất khẩu của doanh nghiệp có vốn hoàn toàn trong nước đạt hơn 2 tỷ USD, tăng 6,4%; xuất khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 3,08 tỷ USD, tăng 6,7%.

Xét về thị trường, trong 3 tháng qua, hàng dệt may của Việt Nam xuất sang thị trường Hoa Kỳ đạt 2,53 tỷ USD, tăng 6,57%; sang EU đạt 692 triệu USD, tăng 7,3%; sang Nhật Bản đạt gần 640 triệu USD, tăng 0,62% và sang Hàn Quốc đạt 531,1 triệu USD, tăng 12,37% so với cùng kỳ năm 2015.

Nhìn chung xuất khẩu hàng dệt may sang đa số các thị trường trong quí I/2016 đều đạt mức tăng trưởng dương về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó, xuất khẩu tăng mạnh ở một số thị trường như:  Áo  (+221%), Pháp (+118%),  Ấn Độ (+72,77%), Ai cập (+58.85%). Tuy nhiên, xuất khẩu hàng dệt may giảm mạnh ở một số thị trường như Bờ Biển Ngà, Angola và Myanmar với mức giảm tương ứng:  66,57%, 77,36% và 40,84%.

Dệt may Việt Nam được coi là lợi ích cốt lõi khi gia nhập TPP, tuy nhiên ngành dệt may đang phải đối mặt với thách thức lớn về chuỗi cung ứng để đáp ứng nhu cầu hội nhập. Hiện nay dệt may trong nước đang phải NK 60% nguyên liệu của Trung Quốc. Trong nước chỉ sản xuất được 40% nguyên liệu nhưng chủ yếu là hàng dệt kim, công nghệ đơn giản. Đối với dệt thoi thì từ 70 đến 80% là NK.

Nguyên nhân ngành dệt may NK nguyên liệu kéo dài là do doanh nghiệp (DN) Việt Nam chủ yếu là gia công hoặc là sản xuất theo chỉ định của các DN nước ngoài nên không thể quyết định nguyên liệu sản xuất. Bên cạnh đó, phần lớn DN trong nước còn sử dụng công nghệ lạc hậu, mẫu mã nghèo nàn, chất lượng sản phẩm không đáp ứng nhu cầu khách hàng nên không thể cạnh tranh.

Về nguyên liệu sản xuất trong nước, trung bình mỗi năm các DN trong nước sản xuất được khoảng 1 tỷ mét vải. Đối với mặt hàng sợi, một năm trong nước sản xuất khoảng 1,2 triệu tấn nhưng XK 700 - 800 ngàn tấn. Nghịch lý ở chỗ trong khi vải trong nước chủ yếu là để XK thì các DN làm hàng XK lại phải nhập vải từ nước ngoài. Tương tự, lượng sợi phải NK cũng tương đương lượng sợi xuất đi.

Nhận thức rõ cơ hội khi gia nhập TPP nếu đảm bảo đủ điều kiện xuất xứ nguyên liệu, tuy nhiên DN trong nước gần như “lực bất tòng tâm” vì đầu tư sản xuất nguyên liệu đòi hỏi số vốn lớn. Đề đầu tư một nhà máy dệt, nhuộm cần phải có hàng chục triệu USD việc này là quá khả năng của các DN vừa và nhỏ trong ngành dệt may.

Trước thực trạng trên, các chuyên gia cho rằng, để giải bài toán về xuất xứ nguyên liệu trong TPP các DN trong ngành dệt may phải phối hợp với nhau. DN XK phải chủ động tìm đến DN sản xuất nguyên liệu nhằm giảm tối đa tình trạng NK. Đây chính là hình thức vừa đảm bảo quy tắc xuất xứ nguyên liệu, vừa đảm bảo tính cạnh tranh về giá cả.

Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, các động lực để liên kết chuỗi giá trị gia tăng cho dệt may hiện nay là hoa hồng, giảm giá, thu mua lại và bình đẳng để cùng có lợi trong kinh doanh.  Để liên kết chuỗi DN phải đáp ứng yêu cầu về giá, thời gian giao hàng số lượng và chất lượng.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ xuất khẩu hàng dệt may quí I/2016

ĐVT: USD

Thị trường

Quí I/2016

Quí I/2015

+/- (%) Quí I/2016 so với cùng

kỳ

Tổng kim ngạch

5.125.443.382

4.850.610.978

+5,67

Hoa Kỳ

2.527.759.781

2.371.881.656

+6,57

Nhật Bản

639.895.384

635.950.158

+0,62

Hàn Quốc

531.095.283

472.637.453

+12,37

Anh

157.541.328

146.842.115

+7,29

Đức

136.764.952

131.075.731

+4,34

Trung Quốc

136.189.240

111.599.823

+22,03

Canada

102.716.770

111.533.773

-7,91

Hà Lan

100.706.744

89.160.686

+12,95

Tây Ban Nha

89.817.578

106.398.857

-15,58

Pháp

69.966.330

32.009.228

+118,58

Đài Loan

63.351.071

54.827.719

+15,55

Campuchia

51.756.845

49.832.667

+3,86

Hồng Kông

44.224.367

45.755.077

-3,35

Bỉ

42.280.622

40.204.465

+5,16

Australia

37.264.085

31.547.736

+18,12

Italia

34.810.646

41.902.972

-16,93

Indonesia

26.497.579

31.295.011

-15,33

Tiểu VQ Arập TN

23.106.604

29.185.115

-20,83

Malaysia

18.023.594

13.875.811

+29,89

Thái Lan

17.810.320

11.747.533

+51,61

Mexico

17.752.573

18.004.530

-1,40

Chi Lê

16.451.695

25.580.153

-35,69

Philippin

16.059.390

11.568.512

+38,82

Đan Mạch

14.219.293

17.327.681

-17,94

Thụy Điển

13.835.922

16.910.910

-18,18

Nga

12.995.753

9.929.733

+30,88

Ả Râp Xê Út

12.510.891

14.970.324

-16,43

Singapore

12.114.043

15.256.484

-20,60

Bangladesh

11.768.918

7.699.961

+52,84

Braxin

10.413.807

16.652.357

-37,46

Ba Lan

9.863.165

9.526.826

+3,53

Nauy

6.568.908

6.618.543

-0,75

Ấn Độ

5.841.648

3.381.213

+72,77

Nam Phi

5.371.601

5.131.501

+4,68

Thổ Nhĩ Kỳ

5.273.097

7.970.637

-33,84

Achentina

5.216.848

7.684.627

-32,11

Áo

4.578.681

1.425.662

+221,16

Panama

4.182.216

5.385.312

-22,34

Senegal

4.078.538

4.561.697

-10,59

Israel

3.524.119

3.593.529

-1,93

New Zealand

3.272.209

3.816.485

-14,26

Myanma

2.242.452

3.790.380

-40,84

Nigieria

1.798.390

1.582.564

+13,64

Thụy Sỹ

1.763.942

2.249.185

-21,57

Gana

1.721.026

0

*

Lào

1.708.432

2.283.722

-25,19

Phần Lan

1.604.122

2.245.649

-28,57

Ai cập

1.595.880

1.004.618

+58,85

Hy Lạp

1.406.185

1.836.867

-23,45

Séc

1.346.334

1.788.820

-24,74

Ucraina

724.659

1.014.007

-28,54

Slovakia

667.710

534.905

+24,83

Angola

578.790

2.556.982

-77,36

Bờ biển Ngà

104.734

313.334

-66,57

Thủy Chung

Nguồn:vinanet