Tại “Hội nghị tổng kết thập niên chất lượng lần thứ hai (2006-2015) và tổng kết giai đoạn I (2010-2015) chương trình quốc gia năng suất chất lượng”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Minh Khương thuộc ĐH Quốc gia Singapore cho rằng khoa học công nghệ là động lực then chốt để nâng cao năng suất lao động (NSLD), sức cạnh tranh doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế.
“Việt Nam đang trong một giai đoạn phát triển thuận lợi lớn, thách thức nhiều”, ông Khương đánh giá. Ông cũng nhận định đây chính là thời điểm hết sức cấp bách để áp dụng khoa học công nghệ (KHCN) trong việc nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp.
“Năng suất lao động quyết định tiền lương, điều này giải thích tại sao tăng lương lao động đối với Việt Nam lại khó đến vậy”, chuyên gia Khương nhận định.
Theo số liệu của Conference Board, khi tính theo ngang giá sức mua tương đương (PPP), thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2014 là 5.400 USD. Tuy vậy, con số này của Việt Nam vẫn thấp hơn Thái Lan 3 lần, của Đài Loan là 8 lần và Singapore là 15 lần.
Nghiên cứu sự thành công thần kỳ của các nước Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc) vị đại diện đến từ Đại học Quốc gia Singapore đánh giá quốc gia nào khai thác tốt hơn động lực KHCN thì sẽ có sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn.
Từ đó ông đưa ra một mô hình đơn giản gồm 5 chữ ASIAN để tóm lược nỗ lực khai thác động lực từ KHCN mà các nước như Nhật, Hàn và Singapore đạt kỳ tích trong phát triển kinh tế.
Chữ A đầu tiên có thể hiểu Aim (Mục tiêu) hay Aspiration (khát khao), ông cho rằng các quốc gia này xác định mục tiêu rất cao với khát vọng đuổi kịp các nước tiên tiến hàng đầu. Một mục tiêu đúng đắn, một khát khao cao cả có tác dụng lan tỏa và thu hút rất lớn. “Nếu mục tiêu không cao thì không thể đi xa được”, ông nhận định.
Dẫn chứng tại Hàn Quốc, ngay từ năm đầu công cuộc phát triển dưới thời Park Chung-hee, chính phủ và doanh nhân Hàn Quốc đều chia sẻ khát vọng đuổi kịp Nhật Bản. Hàn Quốc coi Nhật Bản là mẫu mực trong hoạch định chính sách hiện đại hóa của mình.
“Tuy nhiên mục tiêu cao cả cần có một chiến lược đúng đắn”, ông Khương đề cập đến chữ S (strategy) thứ hai trong mô hình.
Tại Hàn Quốc, những mục tiêu phát triển của quốc gia này luôn dựa trên tham khảo sâu rộng với trí thức, doanh nhân. Tại điểm này, ông nhận định trong 5 chiến lược đúng đắn mà Hàn Quốc đã thực hiện, Việt Nam chia sẻ nhiều điểm giống nhau mà điển hình là quá trình tích cực hội nhập thế giới.
Tiến sĩ Khương nhấn mạnh trong quá trình phát triển, chính phủ nên đóng vai trò hỗ trợ kết nối doanh nghiệp, giúp đỡ những chính sách và là người đại diện để thương thảo với nhà đầu tư nước ngoài. Theo ông, chính phủ không nên và cũng không thể làm thay doanh nghiệp trong việc nắm bắt và chuyển giao công nghệ.
Chữ I (Implementation) thứ 3 mà ông đề cập đến là triển khai. Trong triển khai chiến lược phát triển, Hàn Quốc luôn đầu tư mạnh vào hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Mức chi tiêu R&D so với GDP của quốc gia này luôn tăng, từ 0,47% năm 1967 lên 1,9% năm 1990. Mức chi tiêu cho hoạt động này chiếm 85-90% cho ứng dụng thúc đẩy sản xuất kinh doanh.
Năm 1980 Hàn Quốc có 321 phòng thí nghiệm R&D, 5.100 cán bộ phòng nghiên cứu, thì đến nay con số tương ứng là gần 15.000 phòng thí nghiệp và 190.000 cán bộ nghiên cứu. Con số tiến sĩ là 10.000 người, so với 56 người năm 1980.
“Hàn Quốc đặc biệt coi trọng khai thác lợi thế các nước đi sau bằng việc bỏ tiền mua bản quyền công nghệ”, ông Khương thể hiện ý kiến trong bản tham luận, nhấn mạnh chữ A (Acquisition of Knowledge) thứ 4 trong mô hình. Thái Lan, Hàn Quốc và Philippines trong năm 1980 có chi phí mua công nghệ gần bằng 0, tuy vậy đến năm 2010, chi phí của Hàn Quốc là gần 9 triệu USD, cao hơn gấp ba lần so với Thái Lan. Hiện tại thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc (36.300 USD) (tính theo PPP) cao gấp hơn 2 lần Thái Lan (15.800 USD).
Nuôi dưỡng, phát triển nguồn vốn con người là chữ N (Nurturing) cuối cùng của mô hình này. Trong thời kỳ đầu (1965-1980), nhằm thu hút nhân tài từ nước ngoài, nước này lập ra viện nghiên cứu KIST và trả lương gấp 5 lần cán bộ địa phương (lúc đó là 50 USD) tương đương với 250 USD để kêu gọi cán bộ nghiên cứu nước ngoài về nước.
Cán bộ viện này dược hưởng qui chế tự chủ với mức độ tự do học thuật cao, nên họ luôn cảm thấy thoải mái và làm việc hết sức mình.
Tổng kết lại, theo vị chuyên gia đến từ ĐH Quốc Gia Singapore, mô hình ASIAN không chỉ áp dụng cho quốc gia, mà còn có thể ứng dụng trong phạm vi doanh nghiệp. Ông tin tưởng “Việt Nam đang trong một điều kiện hoàn hảo để đề ra và đạt được những mục tiêu của mình”.
Đức Anh