menu search
Đóng menu
Đóng

BÁO CÁO THỊ TRƯỜNG XĂNG DẦU 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2013 VÀ DỰ BÁO

16:10 08/10/2013

Giá dầu có xu hướng tăng trong tháng 6, với dầu WTI và dầu Brent kỳ hạn đều tăng khoảng 2%. Phiên hôm 18/6, giá dầu WTI đã lên mức đỉnh 9 tháng, chốt phiên ở ngưỡng 98,44 USD/thùng, còn dầu Brent ở mức 106,02 USD/thùng cao nhất kể từ 9/4.
   
   

I.                  TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

1.                 Diễn biến giá dầu thế giới tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2013

Giá dầu có xu hướng tăng trong tháng 6, với dầu WTI và dầu Brent kỳ hạn đều tăng khoảng 2%. Phiên hôm 18/6, giá dầu WTI đã lên mức đỉnh 9 tháng, chốt phiên ở ngưỡng 98,44 USD/thùng, còn dầu Brent ở mức 106,02 USD/thùng cao nhất kể từ 9/4.

Đồ thị giá dầu WTI và Brent trong tháng 6/2013

 

Giá dầu tăng trong tháng qua do một số nguyên nhân chính sau:

·                    Số liệu kinh tế của Hoa Kỳ tốt, doanh số bán lẻ tăng 0,6% trong tháng 5, mạnh hơn dự kiến sau khi tăng 0,1% trong tháng 4. Niềm tin của các chủ thầu xây dựng Hoa Kỳ trong tháng 6 tăng, mạnh nhất kể từ năm 2002, một trong những dấu hiệu mạnh nhất cho thấy sự phục hồi thị trường nhà đang lấy lại được đà kéo.

·                    Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông ngày càng tăng. Hoa Kỳ đã kết luận lực lượng của Tổng thống Syria Bashar al-Assad sử dụng vũ khí hóa học chống lại phiến binh nổi dậy tại Syria và Tổng thống Barack Obama đã quyết định cung cấp viện trợ quân sự trực tiếp cho phe đối lập Syria.

Trong 6 tháng qua giá dầu Breng có xu hướng giảm, nó đã đạt ngưỡng cao nhất năm nay hôm 8/2 ở mức 118,90 USD/thùng. Dầu WTI có biến động nhưng gần như đi ngang. Chênh lệch giữa dầu Brent và dầu WTI giảm dần từ mức hơn 21 USD/thùng đến nay chỉ chưa đến 10 USD/thùng.

Giá xăng trên thị trường cũng liên tục tăng từ mức khoảng 113 USD/thùng vào cuối tháng 5 lên 115,6 USD/thùng vào hôm 18/6, giá bình quân 30 ngày là 113,71 USD/thùng.

2.                 Nguồn cung thế giới

Số liệu sơ bộ chỉ ra nguồn cung dầu toàn cầu ở mức trung bình 90 triệu thùng/ngày trong tháng 5, tăng khoảng 110 nghìn thùng/ngày so với tháng trước. Dầu thô của OPEC được ước tính chiếm 34% nguồn cung toàn cầu, ổn định so với tháng trước. Ước tính này được dựa vào số liệu sơ bộ từ nguồn cung khu vực không thuộc OPEC.

Sản lượng dầu thô của OPEC

Theo nguồn thứ cấp, tổng sản lượng dầu thô của OPEC trung bình 30,57 triệu thùng/ngày trong tháng 5, tăng 106 nghìn thùng/ngày so với tháng trước. Sự tăng này đến chủ yếu từ Ả Rập Xê Út, Angola và UAE, trong khi sản lượng từ Iran, Libya, Iraq và Nigeria sụt giảm. Sản lượng dầu thô của OPEC không tính Iraq ở mức 27,45 triệu thùng/ngày trong tháng 5, tăng 128 triệu thùng/ngày so với tháng trước.

Trong cuộc họp đầu tháng 6, tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ đã đồng ý duy trì mục tiêu sản lượng 30 triệu thùng/ngày tính đến cuối năm.

Tổng sản lượng dầu của OPEC dựa trên các nguồn thứ cấp (ĐVT nghìn thùng/ngày) (nguồn OPEC)

 

2011

2012

3Q12

4Q12

1Q13

T3/13

T4/13

T5/13

+/- T5/T4

Algeria

1.240

1.210

1.209

1.186

1.169

1.165

1.176

1.177

0,7

Angola

1.667

1.738

1.719

1.728

1.754

1.782

1.767

1.796

29,1

Ecuador

490

499

501

502

502

500

504

506

2,2

Iran,I.R.

3.628

2.973

2.742

2.680

2.706

2.685

2.682

2.644

-37,7

Iraq

2.665

2.979

3.135

3.118

3.028

3.025

3.145

3.123

-22,2

Kuwait

2.538

2.793

2.799

2.820

2.791

2.784

2.835

2.842

7,0

Libya

462

1.393

1.466

1.468

1.399

1.398

1.429

1.402

-27,3

Nigeria

2.111

2.073

2.110

1.965

1.988

1.939

1.923

1.902

-21,0

Qatar

794

753

745

732

736

732

730

730

-0,2

Saudi Arabia

9.290

9.737

9.792

9.436

9.110

9.138

9.223

9.367

143,4

UAE

2.516

2.624

2.653

2.650

2.690

2.700

2.705

2.734

29,0

Venezuela

2.380

2.360

2.348

2.343

2.358

2.355

2.344

2.347

2,7

Tổng OPEC

29.782

31.132

31.217

30.628

30.229

30.202

30.462

30.567

105,6

OPEC trừ Iraq

27.116

28.153

28.082

27.509

27.201

27.177

27.317

27.445

127,8

Sản lượng dầu của các nước không thuộc OPEC

OECD châu Mỹ

Nguồn cung dầu từ OECD châu Mỹ được dự báo tăng 0,84 triệu thùng/ngày lên mức trung bình 17,59 triệu thùng/ngày trong năm 2013, điều chỉnh tăng 30 nghìn thùng/ngay so với tháng trước. Nguồn cung trung bình trong dự báo hiện nay cho năm 2013 là cao nhất trong kỷ lục. Tăng trưởng dự đoán tại OECD châu Mỹ được hỗ trợ bởi Hoa Kỳ và Canada, trong khi Mexico dường như điều chỉnh giảm nhỏ.

Dựa trên cơ sở hàng quý, nguồn cung dầu của OECD châu Mỹ trong năm 2013 được dự báo tương ứng đứng ở mức 17,56 triệu thùng/ngày, 17,51 triệu thùng/ngày,17,61 triệu thùng/ngày và 17,67 triệu thùng/ngày. Trong quý I/2013, nguồn cung dầu của OECD tăng 1,03 triệu thùng/ngày so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng dầu của Hoa Kỳ được dự kiến ở mức trung bình 10,68 triệu thùng/ngày trong năm 2013, tăng 0,64 triệu thùng/ngày so với năm trước và điều chỉnh tăng 50 nghìn thùng/ngày so với báo cáo trước. Theo dự báo hiện nay, nguồn cung của Hoa Kỳ là cao nhất kể từ năm 1973. Tăng trưởng nguồn cung của Hoa Kỳ trong năm 2013 là cao nhất trong số các nước không thuộc OPEC và được dự kiến đóng góp mạnh nhất tới tăng trưởng nguồn cung tổng thể của khu vực không thuộc OPEC. Dự báo này được hỗ trợ bởi tăng trưởng mạnh từ sự phát triển của dầu đá phiến. Việc bảo dưỡng dự đoán tại những nơi sản xuất ở Vịnh Mexico có thể ảnh hưởng tới tăng trưởng trong năm 2013. Việc đóng cửa của nhà máy xử lý khí gas trong hơn một tháng kể từ đầu tháng 5 được dự kiến ảnh hưởng tới sản lượng của vài giếng dầu như Thunder Horse và Na Kika. Tuy nhiên, sự tăng lên trong hoạt động khoan nước sâu tại Vịnh Mexico có thể hỗ trợ sản lượng.

Theo số liệu sơ bộ, nguồn cung dầu của Texas là 2,33 triệu thùng trong quý I/2013, tăng 0,55 triệu thùng/ngày so với cùng kỳ năm trước. Tăng trưởng này được hỗ trợ bởi nguồn cung dầu phiến đá ngày càng tăng, chủ yếu từ Eagle Ford nơi sản lượng đạt tới 0,53 triệu thùng/ngày trong tháng 3, cao hơn 70% so với cùng tháng năm trước. Tuy nhiên sản lượng dầu tại Bắc Dakota tăng 0,21 triệu thùng trong quý I so với cùng quý năm trước. Sự tăng trưởng này được hỗ trợ bởi sự phát triển tại khu vực Bakken.

OECD châu Âu

Tổng nguồn cung dầu của OECD châu Âu được thấy ở mức trung bình 3,57 triệu thùng/ngày trong năm 2013, sụt giảm 0,20 triệu thùng/ngày so với năm 2012 và điều chỉnh giảm nhỏ 10 nghìn thùng/ngày so với tháng trước. Sự điều chỉnh này đến từ Na Uy và Anh. Nguồn cung của các nước OECD châu Âu khác dự báo điều chỉnh giảm. Nguồn cung dầu của khu vực này được dự đoán sụt giảm mạnh nhất trong số các khu vực không thuộc OPEC. Dựa trên cơ sở hàng quý, nguồn cung của OECD châu Âu trong năm 2013 có thể ở mức trung bình 3,66 triệu thùng/ngày, 3,58 triệu thùng/ngày, 3,44 triệu thùng/ngày và 3,61 triệu thùng/ngày.

Sản lượng dầu của Na Uy được dự kiến giảm 0,12 triệu thùng xuống mức trung bình 1,79 triệu thùng/ngày trong năm 2013, điều chỉnh tăng 15 nghìn thùng/ngày so với ước tính tháng trước. Nguồn cung dự kiến hiện nay của Na Uy trung bình trong năm 2013 ở mức thấp nhất kể từ năm 1990. Việc điều chỉnh tăng đến chủ yếu do điều chỉnh sản lượng trong quý I. Việc khởi động lại của giếng dầu Jette đã hỗ trợ điều chỉnh tăng, cũng như sản lượng dầu mới từ Valhall, Skuld và Hyme.

Tuy nhiên, công việc bảo trì tại Norpipe có thể ảnh hưởng sản lượng từ giếng dầu Ekofisk mà dự kiến ảnh hưởng tới dự báo trong giai đoạn tới. Số liệu sản lượng sơ bộ trong tháng 4 là cao hơn trong tháng 3. Nguồn cung của Na Uy sụt giảm trong quý II do là mùa bảo dưỡng. Trong 4 tháng đầu năm 2013, sản lượng dầu của Na Uy trung bình là 1,84 triệu thùng/ngày, sụt giảm 0,24 triệu thùng/ngày so với cùng kỳ năm trước.

OECD châu Á Thái Bình Dương

Sản lượng dầu của OECD châu Á Thái Bình Dương được dự báo ở mức trung bình 0,49 triệu thùng /ngày trong năm 2013, sụt giảm 30 nghìn thùng/ngày so với năm 2012 và điều chỉnh giảm 10 nghìn thùng/ngày so với tháng trước. Nguồn cung dầu của Australia và New Zealan được dự kiến điều chỉnh giảm nhỏ trong năm 2013. Dựa trên cơ sở hàng quý, nguồn cung dầu của OECD Thái Bình Dương được thấy ở mức trung bình 0,45 triệu thùng/ngày, 0,48 triệu thùng/ngày, 0,50 triệu thùng/ngày và 0,52 triệu thùng/ngày.

Nguồn cung dầu của Australia được dự kiến ở mức trung bình 0,41 triệu thùng/ngày trong năm 2013, sụt giảm 30 nghìn thùng/ngày so với năm trước, điều chỉnh giảm 10 nghìn thùng/ngày so với báo cáo trước đó. Theo số liệu sơ bộ, sản lượng dầu của Australia trung bình 0,37 triệu thùng/ngày trong quý I/2013, sụt giảm 50 nghìn thùng/ngày so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, sản lượng tăng dần dần trong những giai đoạn tới được hỗ trợ bởi sản lượng mới, khởi động lại giếng Fletcher cũng như những giếng khác, hỗ trợ sự gia tăng dự kiến.

Các nước đang phát triển

Tổng nguồn cung dầu cảu các nước đang phát triển được dự kiến tăng 0,15 triệu thùng/ngày so với năm 2012 lên mức trung bình 12,29 triệu thùng/ngày trong năm 2013, điều chỉnh giảm 55 nghìn thùng/ngày so với tháng trước. Việc điều chỉnh giảm đã ảnh hưởng tới tất cả các quý của năm 2013 ngoại trừ quý I được điều chỉnh tăng, do số liệu sản lượng được cập nhật trong quý I và sự thay đổi nguồn cung của một số nước. Tăng trưởng dự đoán được thúc đẩy chủ yếu bởi nguồn cung từ Mỹ La Tinh, châu Phi và các nước châu Á khác, trong khi nguồn cung của Trung Đông được dự đoán sụt giảm. Dựa trên cơ sở hàng quý, tổng sản lượng dầu của các nước đang phát triển đứng ở mức tương ứng 12,14 triệu thùng/ngày, 12,16 triệu thùng/ngày, 12,36 triệu thùng/ngày và 12,48 triệu thùng/ngày. Trong quý I, số liệu sơ bộ chỉ ra nguồn cung dầu của khu vực này giảm 0,15 triệu thùng/ngày so với cùng kỳ năm 2012.

Nguồn cung của các nước châu Á khác ước tính tăng 30 nghìn thùng/ngày trong năm 2013 lên mức trung bình 3,66 triệu thùng/ngày, không đổi so với điều chỉnh trước đó. Sự ổn định này do điều chỉnh giảm bù cho điều chỉnh tăng sản lượng khác. Nguồn cung dầu từ Malaysia và Việt Nam được dự kiến tăng trong năm 2013, trong khi nguồn cung từ Indonesia được dự kiến sụt giảm. Sản lượng của Malaysia được dự kiến ở mức trung bình 0,72 triệu thùng trong năm 2013 tăng 60 nghìn thùng/ngày so với năm trước, mức tăng trưởng mạnh nhất trong khu vực này.

Sản lượng của Việt nam được dự báo tăng 10 nghìn thùng/ngày trong năm 2013, lên mức trung bình 0,39 triệu thùng/ngày. Điều chỉnh tăng nhỏ này được hỗ trợ bởi việc khởi động mỏ Hải Sư Trắng và Hải Sư Đen. Số liệu sơ bộ cho thấy nguồn cung của các nước châu Á khác đã giảm 20 nghìn thùng trong quý I so với cùng kỳ một năm trước.

FSU và các khu vực khác

Tổng nguồn cung dầu của FSU được dự kiến ở mức trung bình 13,42 triệu thùng/ngày trong năm 2013, tăng 0,12 triệu thùng/ngày so với năm 2012 và điều chỉnh tăng 20 nghìn thùng/ngày so với tháng trước. Việc điều chỉnh này do sự thay đổi dự báo nguồn cung từ Nga và Kazakhstan dựa trên số liệu sản lượng được cập nhật. Về khối lượng, FSU vẫn là khu vực với nguồn cung cao thứ hai sau OECD châu Mỹ. Dự kiến tăng trưởng nguồn cung trong năm 2013 được hỗ trợ bởi Nga và Kazakhstan trong khi Azerbaijan sụt giảm. Dựa trên cơ sở hàng quý, tổng nguồn cung từ FSU được dự kiến đứng ở mức 13,44 triệu thùng/ngày, 13,38 triệu thùng/ngày, 13,38 triệu thùng/ngày và 13,49 triệu thùng/ngày. Nguồn cung của các nước châu Âu khác có thể vẫn ổn định trong năm 2013 và trung bình 0,14 triệu thùng/ngày. Nguồn cung dầu của Trung Quốc được dự báo lên tăng 70 nghìn thùng/ngày so với năm trước lên mức trung bình 4,26 triệu thùng/ngày trong năm 2013.

Nguồn cung dầu của Nga được dự kiến ở mức trung bình 10,45 triệu thùng/ngày trong năm 2013, tăng 70 nghìn thùng/ngày so với năm 2012, điều chỉnh tăng 10 nghìn thùng/ngày so với báo cáo tháng trước và cao nhất kể từ năm 1989. Theo số liệu sơ bộ, nguồn cung dầu của Nga trong tháng 5 lên mức cao nhất từ đầu năm đến nay. Sản lượng dầu của Nga duy trì mức khỏe mạnh, được hỗ trợ bởi sự tăng cường của dự án Vankor và sự ổn định trong các khu vực sản xuất đã trưởng thành. Dựa trên cơ sở hàng quý, nguồn cung ước tính tương ứng 10,45 triệu thùng/ngày, 10,45 triệu thùng/ngày, 10,44 triệu thùng/ngày và 10,44 triệu thùng/ngày. Theo số liệu sơ bộ, sản lượng dầu của Nga trung bình 10,46 triệu thùng/ngày trong tháng 5, tăng nhẹ so với tháng trước. Nguồn cung dầu của Nga trong giai đoạn tháng 1 đến tháng 5 đã tăng 120 nghìn thùng/ngày so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng dầu của Trung Quốc được dự báo trung bình 4,26 triệu thùng/ngày trong năm 2013, một mức cao kỷ lục mới và tăng 70 nghìn thùng/ngày so với năm 2012, điều chỉnh tăng 10 nghìn thùng/ngày so với dự báo tháng trước. Điều chỉnh tăng đến từ việc số liệu sản lượng được cập nhật trong phần đầu của quý II, cao hơn dự kiến. Nguồn cung dầu của Trung Quốc trung bình 4,25 nghìn thùng/ngày trong tháng 4, tăng ít so với tháng trước, và tăng 60 nghìn thùng so với cùng tháng năm trước. Sự tăng nguồn cung trong tháng 4 được hỗ trợ bởi các giếng xa bờ. Trong giai đoạn tháng 1 đến tháng 4, nguồn cung dầu của Trung Quốc tăng 130 nghìn thùng/ngày so với cùng kỳ năm trước.

3.                 Tình hình tiêu thụ trên thế giới

Số liệu thực sự của OECD kết hợp với số liệu sơ bộ của khu vực không thuộc OECD trong quý I năm 2013 chỉ ra tăng trưởng nhu cầu dầu thế giới thấp hơn ước tính trong báo cáo tháng trước. Nhu cầu dầu thế giới trong quý I/2013 tăng 0,7 triệu thùng/ngày. Phần lớn sự điều chỉnh đến từ OECD nơi nhu cầu được điều chỉnh giảm 136.000 thùng/ngày, trong khi khu vực không thuộc OECD điều chỉnh giảm ít hơn khoảng 8.000 thùng/ngày. Trong các khu vực OECD, nhu cầu của OECD châu Âu và OECD châu Á Thái Bình Dương được điều chỉnh giảm tương ứng 150.000 thùng/ngày và 50.000 thùng/ngày. Ngược lại, OECD châu Mỹ được điều chỉnh tăng 64.000 thùng/ngày. Trong các nước không thuộc OECD, toàn bộ được điều chỉnh giảm.

Trong điều kiện tuyệt đối, tổng cộng nhu cầu được ước tính trung bình 88,8 triệu thùng/ngày trong quý I, trước khi sụt giảm xuống 88,7 triệu thùng/ngày trong quý II.

Trong các nước không thuộc OECD, chỉ số PMI của Trung Quốc dưới 50 điểm trong tháng 5, tiếp tục sụt giảm từ tháng 4. Điều này chỉ ra sự phục hồi kinh tế của Trung Quốc tiếp tục yếu kém, không khuyến khích bố sung nhu cầu dầu diesel/ khí. Tăng trưởng đầu tư thấp hơn được thấy trong những tháng gần đây, dự kiến tiếp tục cho đến cuối năm 2013, có thể cũng ảnh hưởng tiêu cực tới tiêu thụ dầu của nước này.

Đối với các nước châu Á khác, nhu cầu dầu của Ấn Độ vẫn duy trì mặc dù một loạt cải tổ về giá, tuy nhiên doanh số bán ô tô giảm cùng với sự thay thế ngày càng tăng cho các loại dầu nhiên liệu khác có thể làm giảm nhu cầu trong những quý tới. Việc giảm trợ cấp ở Indonesia, Thái Lan và những nước khác trong khu vực này có thể cũng ảnh hưởng tới nhu cầu của năm nay.

Trung Đông và Mỹ La Tinh có thể có tăng trưởng nhu cầu dầu cao hơn dự đoán hiện nay do tiêu thụ nhiều hơn được dự đoán trong linh vực giao thông, xây dựng và các lĩnh vực phát điện. Riêng Ả Rập Xê Út chiếm hơn 1/3 tổng số tiêu thụ dầu của Trung Đông. Nếu thời tiết trở thành ấm hơn, dầu đốt nóng trực tiếp sẽ tăng lên để bù cho sự gia tăng trong điều hòa không khí.

OECD châu Mỹ

Số liệu hàng tháng mới nhất chỉ ra nhu cầu dầu của Hoa Kỳ tăng 1,5% trong tháng 3 so với cùng tháng một năm trước, kết quả này là sự tăng trưởng tích cực trong quý I lần đầu tiên trong hai năm. Trong ba tháng trước, phần lớn sự tăng trưởng đến từ các sản phẩm công nghiệp, đặc biệt propane/propylene và sản phẩm chưng cất, phần nào phản ánh nhiệt độ theo mùa thấp hơn trong mùa đông năm ngoái, đã dẫn đến nhu cầu dầu đốt nóng tăng. Ngược lại nhu cầu xăng, dầu FO và nhiên liệu máy bay thì không đổi. Hoạt động công nghiệp và niềm tin tiêu dùng đang cải thiện là lý do chính đằng sau sự tăng lên của nhiên liệu công nghiệp trong khi doanh số ô tô tăng đặc biệt là xe tải, cho thấy nhu cầu diesel đang cải thiện.

Nhu cầu dầu của Hoa Kỳ tăng nhẹ cũng có thể thấy trong số liệu sơ bộ hàng tuần tháng 4/2013, một xu hướng tiếp nối trong tháng ba với propane/propylene và sản phẩm chứng cất đang cải thiện và nhu cầu xăng vẫn ổn định. Tuy nhiên số liệu sơ bộ hàng tuần tháng 5 chỉ ra tăng trưởng âm, điều này phù hợp với sự sụt giảm trong chỉ số PMI.

OECD châu Âu

Nhu cầu dầu của châu Âu giảm tháng 12 liên tiếp trong tháng 4. Điều này được đánh dấu bởi suy thoái kinh tế sâu tiếp tục trong một số nơi ở khu vực này. Trong tháng trước, nhu cầu dầu giảm mạnh hơn tại các nước phía nam, nơi đang trải qua các biện pháp thắt lưng buộc bụng nghiêm ngặt nhằm giảm nợ công.

Mặc dù nhu cầu dầu giảm mạnh nhất tại Tây Ban Nha, Italy, Bồ Đào Nha và Hy Lạp, nhu cầu dầu cũng giảm tại Đức và Pháp. Chỉ ngoại trừ duy nhất Anh với đà tăng trong sản xuất do chỉ số PMI tăng lên 50,2 từ mức 49,4 tháng trước. Doanh số bán ô tô tăng tại Anh cũng báo hiệu sự phát triển tích cực tại nước này.

Trong tháng 4, nhu cầu dầu tại bốn nước lớn châu Âu có thể bị sụt giảm mạnh trong nhiên liệu giao thông, đặc biệt là xăng, cũng như nhu cầu sản phẩm chưng cất ổn định mặc dù mức cơ sở ban đầu rất yếu. Các đơn hàng sản xuất của Đức giảm trong tháng 3 báo hiệu sự suy giảm hơn nữa trong nhu cầu dầu tại khu vực này. Tin tức tích cực đến từ việc cải thiện chút ít trong công nghiệp ô tô của châu Âu, với doanh số tăng lần đầu tiên kể từ tháng 9/2011, tháng 4 tăng 1,7% so với cùng tháng năm trước. Tuy nhiên, sự tăng này có thể phần lớn do bổ sung hai ngày làm việc so với cùng tháng năm ngoái.

OECD châu Á Thái Bình Dương

Tại Nhật Bản, sự sụt giảm nhu cầu dầu trong tháng 4 ở mức âm 0,13 triệu thùng/ngày, ít hơn so với cùng tháng năm trước, trong khi tháng 2 và 3, nhu cầu giảm tương ứng 0,27 triệu thùng/ngày và 0,41 triệu thùng/ngày. Nhu cầu naphtha ngày càng tăng, tăng gần 13,5% so với năm trước, là kết quả của ethylene và chất thơm tăng cao hơn, bù cho sự sụt giảm trong nhu cầu của dầu đốt nóng trực tiếp, dầu FO để chạy điện. Hơn nữa, nhiên liệu vận chuyển tăng cùng với tin tức khuyến khích từ ngành ô tô, chỉ ra doanh số ô tô trong nước tăng lần đầu tiên trong 8 tháng. Ngoài ra, chi tiêu của hộ gia đình ghi nhận một số cải thiện trong tháng 4.

Tình trạng các nhà máy điện hạt nhân của Nhật Bản đang được xem xét, dường như ít có khả năng sẽ phục hồi hoạt động trong năm 2013, do việc kiểm tra quy định theo kế hoạch đòi hỏi phải có thời gian để thực hiện. Điều này được ước tính mất tối thiểu từ 6 tháng đến một năm. Hơn nữa, các tiêu chuẩn mới đòi hỏi chi phí đáng kể, ước tính ít nhất 1,1 nghìn tỷ yên. Công ty duy nhất đã đưa ra ngày khởi động ước tính là Kyushu Electric Power, bắt đầu khởi động lại hoạt đồng trong tháng 7/2013, theo giả định việc kiểm tra quy định sẽ nhanh chóng tiếp tục.

Các nước châu Á khác

Tại Ấn Độ, bắt đầu năm tài chính 2013/14 trong tháng 4 nhu cầu dầu đã tăng 3% so với cùng kỳ năm ngoái. Tăng trưởng của xăng tiếp tục xu hướng giảm 1,9%, với tăng trưởng tổng thể trong 12 tháng trước ở mức 5%. Điều này bị ảnh hưởng bởi doanh số bán xe chở khách giảm và tăng trưởng kinh tế chậm chạp. Nhu cầu sản phẩm chưng cất tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước và bị tác động bởi nguồn cung trong lĩnh vực điện đang cải thiện.

Tuy nhiên, sự phát triển giao thông cảng tiêu cực do xuất khẩu đang chậm lại, với 7 trong số 12 cảng chính tại nước này phát triển âm, điều này hạn chế bất kỳ sự gia tăng trong tiêu thụ dầu diesel.

Tại Indonesia, nhu cầu nhiên liệu giao thông ngày càng tăng, đáng chú ý là xăng, phần lớn bù cho sự sụt giảm nhu cầu sản phẩm chưng cất, dẫn đến kết quả tổng thể nhu cầu dầu tăng 1,8% trong tháng 3/2013 so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu dầu của Indonesia, đặc biệt nhu cầu nhiên liệu giao thông đã phải chịu rất nhiều thay đổi trong chính sách trợ cấp hiện nay. Chính phủ Indonesia đã đệ trình để Quốc hội giảm trợ cấp giá cho xăng và dầu diesel lên 44% và 22% tương ứng, để hạn chế thâm hụt ngân sách. Đệ trình đặc biệt gồm tăng giá xăng RON 88 và diesel lên tương ứng 6.500 rupiah/l và 5.500 rupiah/l.

Tại Thái Lan, nhu cầu dầu trong tháng 3/2013 tăng mạnh 8%. Phần lớn sự tăng trưởng đến từ LPG, xăng và sản phẩm chưng cất, phần lớn được thúc đẩy bởi hoạt động công nghiệp và giao thông.

Các nước Mỹ La Tinh

Tại Brazil, tăng trưởng sản xuất giảm tốc và đơn hàng xuất khẩu trì trệ cho thấy nhu cầu dầu ổn định trong suốt tháng 3/2013 so với năm trước, sau tháng 1 và 2 nhu cầu dầu tăng trưởng mạnh. Nhu cầu dầu FO tăng mạnh tuy nhiên tăng trưởng tích cực này bù cho sụt giảm nhu cầu trong nhiên liệu máy bay/ dầu hỏa, dầu diesel và LPG. Tuy nhiên, thông tin mới nhất chỉ ra sản lượng ethanol và doanh số trong nước tăng mạnh trong tháng 4/2013.

Tại Argentina, nhu cầu dầu trong tháng 3/2013 tăng mạnh 10,7%. Dầu FO, LPG và xăng là những sản phẩm có nhu cầu lớn.

Số liệu mới nhất của Ecuador, tháng 4/2013 nhu cầu dầu tăng vững 8,5%, với nhu cầu xăng và diesel tăng đáng kể trong khi nhu cầu nhiên liệu máy bay/ dầu hỏa giảm nhẹ.

Trung Đông

Tại Ả Rập Xê Út, bốn tháng đầu năm 2013 nhu cầu dầu tăng mạnh 5,1% so với cùng kỳ năm trước. Tăng trưởng này được thúc đẩy bởi hoạt động kinh tế khỏe mạnh. Dựa trên cơ sở các lĩnh vực, công nghiệp, giao thông và lĩnh vực hóa dầu chiếm phần lớn sự tăng trưởng, trong khi thời tiết tương đối ôn hòa cho thấy sự dụng dầu đốt nóng trực tiếp ít đi. Tương tự, nhu cầu dầu mạnh mẽ trong quý I/2013 được thấy ở Qatar, do tiêu thụ dầu tăng đáng kể với số lượng lớn từ ngành hàng không. Riêng Ả Rập Xê Út chiếm hơn 1/3 tổng nhu cầu dầu của Trung Đông và nếu thời tiết trở lại ấm hơn, dầu đốt nóng trực tiếp bổ sung sẽ cần thiết để chạy máy điều hòa. Do đó triển vọng năm 2013, nhu cầu dầu của Trung Đông một lần nữa điều chỉnh tăng nhẹ so với dự báo tháng trước và nguy cơ của nó vẫn nghiêng về chiều tăng.

Trung Quốc

Tăng trưởng nhu cầu dầu của Trung Quốc tiếp tục chậm lại, trong tháng 4 ở mức 2,5% so với năm ngoái. Tăng trưởng nhu cầu dầu giảm từ mức 8% trong giai đoạn tháng 9/2012 tới tháng 1/2013, xuống mức chỉ khoảng 3% từ giai đoạn tháng 2 tới tháng 4/2013. Việc giảm tốc độ này có thể là do tăng trưởng kinh tế đang chậm lại, chủ yếu bị ảnh hưởng của nhu cầu nhiên liệu công nghiệp. Hoạt động sản xuất của Trung Quốc bước vào giai đoạn phát triển yếu hơn trong tháng 4. Hơn nữa số liệu PMI mới nhất chỉ ra sự tụt giảm trong tháng 5.

Như trong những tháng trước, nhu cầu nhiên liệu vận chuyển đặc biệt là xăng đã tăng lên theo doanh số bán ô tô, trong tháng 4 tăng 13% so với năm trước, tuy nhiên tăng ít hơn những tháng trước. Tuy nhiên nhu cầu nhiên liệu máy bay tăng đáng kể do lĩnh vực hàng không đang phát triển. Gần đây nhất, Ủy bản phát triển và cải tổ quốc gia (NDRC) đã thông báo giảm giá bán lẻ xăng và diesel tương ứng 95 và 90 NDT/tấn, giảm trong phạm vi khoảng 1% so với giá bán hiện hành.

Trong khi nhu cầu dầu của Trung Quốc dự đoán tiếp tục yếu đi trong tháng 5 do hoạt động sản xuất yếu và sự quay lại hoạt động của nhà máy lọc dầu, nhu cầu dẩu dự kiến tăng trong những tháng tới. Tuy nhiên triển vọng tổng thể năm 2013 vẫn nghiêng về phía giảm dựa vào các chỉ số kinh tế gần đây.

4.                 Dự báo

Nguồn cung dầu của khu vực không thuộc OPEC được dự báo trung bình 53,96 triệu thùng/ngày trong năm 2013, tăng trưởng 0,98 triệu thùng/ngày so với năm trước, tương đối ổn định so với báo cáo tháng trước.

Dự báo nguồn cung dầu của OECD được điều chỉnh tăng, trong khi dự báo nguồn cung của các nước đang phát triển điều chỉnh giảm. Dự báo nguồn cung quý I được điều chỉnh giảm khoảng 20 nghìn thùng/ngày, chủ yếu do sự phát triển tại OECD và FSU. Ba quý còn lại được điều chỉnh tăng, chủ yếu là số liệu của OECD, FSU và Trung Quốc. Vấn đề chính trị, kỹ thuật, môi trường và thời tiết được dự kiến là những yếu tố rủi ro chính đối với nguồn cung dầu khu vực không thuộc OPEC trong năm 2013.

Dựa theo cơ sở hàng quý, nguồn cung của khu vực không thuộc OPEC được dự kiến trung bình 53,82 triệu thùng/ngày, 53,69 triệu thùng/ngày, 53,89 triệu thùng/ngày và 54,43 triệu thùng/ngày. Theo số liệu sơ bộ nguồn cung dầu của khu vực không thuộc OPEC tăng 0,66 triệu thùng trong quý I/2013 so với cùng kỳ năm trước.

Dự báo nguồn cung dầu của các nước không thuộc OPEC năm 2013 (triệu thùng/ngày)

 

2012

1Q13

2Q13

3Q13

4Q13

2013

13/12

Americas

16,75

17,56

17,51

17,61

17,67

17,59

0,84

Europe

3,77

3,66

3,58

3,44

3,61

3,57

-0,20

Asia Pacific

0,52

0,45

0,48

0,50

0,52

0,49

-0,03

Tổng OECD

21,05

21,67

21,57

21,55

21,80

21,65

0,60

Other Asia

3,63

3,64

3,65

3,67

3,68

3,66

0,03

Latin America

4,70

4,72

4,74

4,88

4,94

4,82

0,12

Middle East

1,50

1,46

1,42

1,41

1,42

1,43

-0,07

Africa

2,31

2,32

2,36

2,41

2,44

2,38

0,07

Tổng DCs

12,14

12,14

12,16

12,36

12,48

12,29

0,15

FSU

13,30

13,44

13,38

13,38

13,49

13,42

0,12

Other Europe

0,14

0,14

0,14

0,14

0,14

0,14

0,00

China

4,19

4,24

4,23

4,26

4,30

4,26

0,07

Tổng các khu vực khác

17,62

17,81

17,75

17,77

17,93

17,82

0,19

Tổng nguồn cung của các nước không thuộc OPEC

52,98

53,82

53,69

53,89

54,43

53,96

0,98

Ước tính trước đó

52,98

53,85

53,68

53,88

54,41

53,96

0,98

Điều chỉnh

0,00

-0,02

0,01

0,01

0,02

0,01

0,01

Nửa cuối năm nay nhu cầu dầu tăng cao hơn, đạt 90,2 triệu thùng/ngày và 90,9 triệu thùng trong quý III và IV tương ứng. Đối với toàn bộ năm nay, tăng trưởng nhu cầu dầu thế giới vẫn gần như không đổi so với dự báo trước ở mức 0,8 triệu thùng/ngày, phù hợp với tăng trưởng ước tính cho năm 2012 và đạt trung bình 89,6 triệu thùng/ngày.

Dự báo hiện nay không chỉ OECD được điều chỉnh giảm mà còn cả các nền kinh tế mới nổi. Đối với các nước OECD, bất cứ khả năng chậm trễ trong sự phục hồi kinh tế kết hợp với sự suy giảm hơn nữa của nền kinh tế châu Âu có thể dẫn đến tiếp tục giảm tăng trưởng nhu cầu dầu. Thêm vào đó, việc sử dụng của nhiên liệu đốt nóng trực tiết và dầu FO tại Nhật Bản đã bị suy yếu trong tháng 4 năm nay, chủ yếu do sự thay thế của khí tự nhiên và than cũng như nỗ lực tiếp kiệm năng lượng. Nếu xu hướng này tiếp tục trong những tháng tới, tiêu thụ dầu tại Nhật Bản sẽ thấp hơn dự kiến hiện nay.

Tiêu thụ dầu trong khu vực không thuộc OECD được dự kiến tăng 1,2 triệu thùng/ngày hay giảm nhẹ so với tăng trưởng ước tính trong năm 2012. Trung Quốc tiếp tục tăng 0,35 triệu thùng/ngày, phù hợp với tăng trưởng của năm ngoái, lên mức trung bình 10,1 triệu thùng/ngày. Tăng trưởng nhu cầu dầu của Trung Đông được dự kiến ở mức 0,31 triệu thùng đứng ở mức 7,9 triệu thùng/ngày, trong khi các nước châu Á khác và Mỹ La Tinh sẽ tăng 0,2 triệu thùng/ngày mỗi nơi lên mức trung bình tương ứng 11,0 triệu thùng/ngày và 6,5 triệu thùng/ngày. Ngược lại, nhu cầu của OECD được dự kiến giảm 0,4 triệu thùng/ngày, thấp hơn tăng trưởng của năm 2012 một chút, xuống mức trung bình 45,6 triệu thùng/ngày.

Sơ đồ nhu cầu dầu cuả các khu vực trên thế giới trong năm 2013

Theo cơ quan thông tin năng lượng Hoa Kỳ (EIA), giá dầu WTI giao ngay có giá trung bình 92,33 USD/thùng, dầu Brent giao ngay có giá trung bình 101,50 USD/thùng trong quý III/2013.

II.               TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

1.                 Diễn biến giá xăng dầu trong nước tháng 6 và 6 tháng năm 2013

Liên Bộ Tài chính - Công Thương vừa cho phép doanh nghiệp đầu mối xăng dầu điều chỉnh giá bán xăng và dầu diezel thêm từ 221 đồng - 420 đồng/lít, áp dụng từ 20h hôm 14/6. Theo quyết định của Liên Bộ Tài chính - Công Thương, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối tiếp tục được sử dụng Quỹ BOG để hạn chế mức chênh lệch giữa giá cơ sở cao hơn giá bán hiện hành. Riêng phần chênh lệch còn lại cho phép doanh nghiệp tăng giá bán xăng dầu trong nước, mức cụ thể như sau:

Mặt hàng xăng: sử dụng Quỹ BOG 300 đồng/lít, phần chênh lệch còn lại doanh nghiệp được phép điều chỉnh tăng giá bán tối đa 426 đồng/lít.

Mặt hàng dầu diezel: sử dụng Quỹ BOG 300 đồng/lít, phần chênh lệch còn lại doanh nghiệp được phép điều chỉnh tăng giá bán tối đa 221 đồng/lít.

Các mặt hàng dầu hỏa và ma zút, liên Bộ yêu cầu doanh nghiệp không tăng giá, giữ ổn định giá bán dầu hỏa như hiện hành; mức sử dụng Quỹ BOG 300 đồng/lít đối với dầu hỏa và 100 đồng/kg với ma zút.

Quyết định tăng giá bán lẻ xăng dầu của liên Bộ đã gây bất ngờ lớn cho dư luận. Sau khi giảm nhẹ đầu tháng 5, giá xăng dầu thành phẩm thế giới kể từ giữa tháng 5/2013 biến động tăng trở lại. Giá xăng dầu thành phẩm thế giới bình quân 30 ngày từ ngày 15/5/2013 đến 13/6/2013 như sau: giá xăng RON 92: 112,60 USD/thùng; dầu diezel 0,05S: 117,24 USD/thùng; dầu hỏa: 115,43 USD/thùng, dầu ma zút 180 cst: 610,02 USD/tấn.

Để giữ ổn định, không tăng giá bán xăng dầu trong nước, ngày 18/5/2013, Liên Bộ tài chính - Công Thương đã điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu với mặt hàng xăng (giảm 1% từ 19% xuống còn 18%) và từ ngày 01/6/2013, cho phép các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối sử dụng Quỹ Bình ổn giá từ (160 - 400 đồng/lít,kg). Tuy nhiên, do giá xăng dầu thế giới tiếp tục biến động tăng khiến giá cơ sở vẫn cao hơn giá bán hiện hành, liên Bộ Tài chính - Công Thương đã lựa chọn phương án điều hành giá xăng dầu như trên.

Đồ thị giá xăng RON 92 và dầu Diesel từ đầu năm 2013 (theo giá của Petrolimex)

Từ đầu năm đến nay giá xăng dầu đã có 5 lần thay đổi với hai lần tăng giá vào ngày 28/3 và gần đây nhất là 14/6 và có 3 lần giảm giá vào ngày 9/4, 18/4 và 26/4. Giá xăng đã lên ngưỡng cao nhất trong lịch sử 24.550 đồng/lít với xăng RON 92 sau khi tăng 1.400 đồng/lít vào ngày 28/3.

2.                 Tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu

Về khai thác dầu khí, ngày 19 tháng 5 năm 2013, dòng dầu thương mại đầu tiên đã được khai thác từ giếng HST-3P mỏ Hải Sư Trắng thuộc Lô 15-2/01 do Công ty liên doanh điều hành chung Thăng Long (TLJOC) điều hành. Dự án thăm dò và khai thác thuộc Hợp đồng dầu khí Lô 15-2/01 do Công ty liên doanh TLJOC điều hành với sự tham gia của Talisman - Canada (60%) và PVEP (40%). Mỏ Hải Sư Trắng đã có phát hiện dầu vào tháng 9 năm 2006 từ giếng khoan HST-1X, sau hơn 1 năm kể từ ngày thành lập Công ty. Tiếp theo thành công của chương trình thăm dò năm 2006, mỏ Hải Sư Đen đã được phát hiện từ giếng HSĐ-1X vào tháng 9 năm 2007. Sau quá trình triển khai công tác thẩm lượng, đánh giá khả năng khai thác của mỏ, đến ngày 25 tháng 6 năm 2012, Báo cáo Kế hoạch khai thác mỏ Hải Sư Trắng và Kế hoạch khai thác sớm mỏ Hải Sư Đen đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo phương án kết nối vào giàn H1 mỏ Tê Giác Trắng do Công ty liên doanh Hoàng Long (HLJOC) điều hành với mục tiêu có dòng dầu đầu tiên khai thác từ mỏ Hải Sư Trắng vào 19 tháng 5 năm 2013. 

 Trải qua hơn 2 năm tích cực triển khai, vượt qua nhiều khó khăn thách thức với sự nỗ lực không ngừng của TLJOC cùng với sự hợp tác hiệu quả giữa Talisman, PVEP, HLJOC cùng tổng thầu PTSC, nhà thầu VSP và sự chỉ đạo, hỗ trợ tích cực của PVN, tới nay, đề án phát triển mỏ Hải Sư Trắng đã được đưa vào khai thác đúng tiến độ đề ra với sản lượng khai thác từ 3 giếng đầu tiên (HST 1P, 2P và 3P) đã đạt mức 13 ngàn thùng/ngày. Dự kiến mỏ Hải Sư Đen cũng sẽ được đưa vào khai thác sớm vào 19 tháng 6 năm 2013 theo kế hoạch đề ra. Việc khai thác hai mỏ Hải Sư Trắng và Hải Sư Đen góp phần vào tăng trưởng khoảng 10 nghìn thùng dầu thô/ngày của Việt Nam trong năm 2013.

Tính từ khi vận hành, đến nay Công ty TNHH Một thành viên Lọc hóa dầu Bình Sơn đã nhập tổng cộng 300 lô dầu thô với tổng khối lượng là 23.950.000 MT, trong đó có 20.575.000 MT dầu thô Bạch Hổ và từ các mỏ khác tại Việt Nam, số còn lại 3.375.000 MT nhập khẩu từ nước ngoài.

Để bảo đảm nguồn dầu thô cho sản xuất kết hợp đa dạng hóa nguồn cung cấp dầu thô đầu vào cho nhà máy đồng thời nhằm tăng hiệu quả kinh tế sản xuất kinh doanh, Công ty TNHH Một thành viên Lọc hóa dầu Bình Sơn đã nghiên cứu tìm kiếm và nhập các nguồn dầu thô thay thế từ nước ngoài đưa về phối trộn với dầu thô Bạch Hổ. Tỷ lệ phối trộn trung bình hiện nay đạt khoảng 15% trên tổng lượng dầu thô, bao gồm dầu AMNA mua từ Libya; dầu Azeri Light mua từ Ạzerbaijan; dầu Champion mua từ Brunei; dầu Kaji, Labuan, Kikeh, Miri mua từ Malaysia…

Trong thời gian tới, Công ty TNHH Một thành viên Lọc hóa dầu Bình Sơn sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc nhập khẩu các lô dầu nước ngoài, tăng dần và tiến đến thay thế nguồn dầu thô Bạch Hổ, chủ động đảm bảo nguồn dầu thô cho nhà máy vận hành liên tục, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Đồng thời tiếp tục mở rộng nghiên cứu các nguồn dầu thô phục vụ cho việc nâng cấp, mở rộng nhà máy theo chỉ đạo của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.

Trong 5 tháng đầu năm 2013, Công ty TNHH Một thành viên Lọc hóa dầu Bình Sơn đã nhập 3,1 triệu tấn dầu thô (đạt 51% kế hoạch năm 2013), sản xuất và xuất bán ra ngoài thị trường 2,7 triệu tấn sản phẩm các loại (đạt 49% kế hoạch năm 2013), với tổng doanh thu đạt trên 60.000 tỉ đồng, nộp ngân sách Nhà nước đạt gần 10.000 tỉ đồng.

Xuất khẩu dầu thô:lượng xuất khẩu trong tháng 5 là 767 nghìn  tấn, tăng 18% về lượng, trị giá là 642 triệu USD, tăng 20,3% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 5/2013, lượng dầu thô xuất khẩu của cả nước đạt 3,48 triệu tấn, tăng 13,9% và kim ngạch đạt 3,02 tỷ USD, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước.

Dầu thô của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang Nhật Bản: 1,09 triệu tấn, giảm 15,5%; sang Australia: 585 nghìn tấn, tăng 44,3%; sang Malaysia: 557 nghìn tấn, tăng 18,4%; sang Hàn Quốc: 492 nghìn tấn, tăng gấp hơn 3 lần; sang  Hoa Kỳ: 311 nghìn tấn, tăng gấp gần 2 lần, sang Trung Quốc: 159 nghìn tấn, giảm 62,3% so với cùng kỳ năm 2012.

Nhập khẩu xăng dầu các loại: lượng nhập khẩu xăng dầu trong tháng là 699 nghìn tấn, trị giá là 626 triệu USD, giảm 7,2% về lượng và giảm 9,4% về trị giá so với tháng trước. Tính đến hết 5 tháng/2013, tổng lượng xăng dầu nhập khẩu của cả nước là gần 3,15 triệu tấn, giảm 18,2%, trị giá là 2,97 tỷ USD, giảm 23,2% so với 5 tháng/2012.

Xăng dầu các loại nhập khẩu vào Việt Nam trong 5 tháng qua chủ yếu có xuất xứ từ: Singapore với 924 nghìn tấn, giảm 44,5%; Trung Quốc: 503 nghìn tấn, giảm 8,8%; Đài Loan: 488 nghìn tấn, giảm 2,8%; Malaysia: 322 nghìn tấn, gấp 2,5 lần; Kuwait: 300 nghìn tấn, tăng 48,7%; Hàn Quốc: 274 nghìn tấn, giảm 39,5%; Thái Lan: 184 nghìn tấn, giảm 26,3%;… so với cùng kỳ năm trước.

(Vinanet.com.vn)