menu search
Đóng menu
Đóng

Hàng hóa TG sáng 2/4: Vàng, dầu và cà phê giảm giá, kim loại và cao su tăng

11:19 02/04/2014

Hàng hóa thế giới đồng loạt giảm trong phiên giao dịch đầu tiên của tháng 4 (kết thúc vào rạng sáng 2/3 giờ VN).

(VINANET) – Hàng hóa thế giới đồng loạt giảm trong phiên giao dịch đầu tiên của tháng 4 (kết thúc vào rạng sáng 2/3 giờ VN).

Giá dầu thô trên thị trường Hoa Kỳ giảm xuống dưới 100 USD/ thùng lần đầu tiên kể từ ngày 25/3 do dự trữ dầu nội địa tăng 11 tuần liên tiếp. Hợp đồng kỳ hạn tháng 5 giảm 1,8% xuống 99,74 USD/thùng.

Giá dầu Brent giảm 2% xuống 105,62 USD/thùng trên sàn ICE Futures Europe. Cả hai hợp đồng đều có giá thấp hơn 5% so với mức giá đưa ra vào đầu tháng 3.

Giá xăng RBOB tháng 5 giảm 1,7% xuống 2,8697 USD/ gallon. Dầu diesel giao tháng 5 giảm 1,4% xuống 2,8878 USD/gallon.

Theo ước tính của các chuyên gia trong khảo sát của Wall Street Journal, dự trữ dầu của Mỹ tăng 700.000 thùng trong tuần trước. Tuy nhiên, mức tăng không đều làm dấy lên lo ngại rằng, liệu lượng dự trữ đó có đủ để duy trì nguồn cung lâu dài không hay chỉ đủ để đáp ứng nhu cầu và sau đó sẽ lại giảm xuống.

Cuối ngày hôm qua, Viện dầu khí Mỹ đã công bố kết quả phân tích tồn kho dầu. Kết quả cho thấy, dự trữ dầu trên cả nước giảm 5,8 triệu thùng vào tuần trước, bao gồm 1,5 triệu thùng ở Cushing. Trong khi đó, dự trữ xăng tăng 180.000 thùng, sản phẩm chưng cất như dầu đốt giảm 170.000 thùng và các nhà máy lọc dầu tăng 87,5% công suất.

Giá vàng cũng giảm, với vàng giao tháng 6 trên sàn Comex giảm xuống 1.280 USD. Khối lượng giao dịch thấp hơn 45% so với mức trung bình 30 ngày. Giá vàng giao ngay trên sàn Kitco vào lúc 5h52 sáng nay là 1280,50 USD/ounce.

Giá vàng chịu áp lực sau khi các báo cáo về sản xuất của Mỹ cho thấy, hoạt động sản xuất trong tháng 3 tăng trưởng mạnh mẽ, giúp nền kinh tế nước này lấy lại được vị thế trên thị trường sau mùa đông khắc nghiệt.

Giới phân tích cho biết, căng thẳng chính trị được xoa dịu cùng với những lo ngại Cục Dự trữ Liên bang Mỹ sẽ tăng lãi suất vào năm sau gây ảnh hưởng lên giá vàng.

Tuy nhiên, các kim loại khác tăng giá. Giá bạch kim tăng 1,2% lên 1.425,50 USD/ounce do lo ngại về nguồn cung và doanh số bán ô tô của Mỹ trong tháng 3 được cải thiện. Palladium tăng 0,5% lên 776,10 USD/ounce. Bạc tăng 0,3% lên 19,77 USD/ ounce.

Giá cà phê arabica trên thị trường NewYork cũng giảm khá mạnh, với hợp đồng kỳ hạn  tháng 5 giảm 1,51% xuống 175.25 cent/lb, kỳ hạn tháng 7 giảm 1,49% xuống 177,35 cent/lb. Các kỳ hạn khác giá giảm trên dưới 1,5%.

Trên sàn Liffe tại London, giá cà phê robusta các kỳ hạn đồng loạt giảm trên dưới 3%, với hợp đồng giao tháng 5 giảm 70 USD, tương đương 3,46% xuống 2.024 USD/tấn. Giá giao tháng 7 giảm 63 USD, tương đương 3,12% xuống 2.021 USD/tấn.

Giá cà phê trong nước sáng nay đồng loạt giảm mạnh do giá cà phê trên cả 2 sàn giao dịch chính trên thế giới đồng loạt giảm sâu, sau khi lo ngại về tình trạng thiếu hụt cà phê do hạn hán tại Brazil và Việt Nam giảm bớt.

Giá cà phê nhân xô Tây Nguyên sáng nay 2/4 đồng loạt giảm tới 400 nghìn đến 1,2 triệu đồng/tấn xuống 38-39,3 triệu đồng/tấn. Giá robusta giao tại cảng TPHCM giá FOB giảm 70USD xuống 1.944 USD/tấn.

Trên thị trường kim loại cơ bản, giá đồng vững bởi số liệu kinh tế Trung Quốc yếu đem lại hy vọng nước này sẽ tăng cường kích thích kinh tế.

Đồng kỳ hạn 3 tháng tại London kết thúc phiên giá 6.660 USD/tấn, tăng 0,30% so với phiên trước đó.

Sáng nay giá đồng tiếp tục tăng lên mức cao kỷ lục 3 tháng, lên 6.728,75 USD/ tấn, mức giá cao nhất trong ngày kể từ ngày 10/3. Tại Tokyo, giá hợp đồng giao trong 3 tháng là 6.675,25 USD/ tấn. Giá hợp đồng giao tháng 5 trên sàn Comex tăng 0,5% lên 3,0485 USD/pound tại New York. Tại Thượng Hải, giá đồng giao tháng 6 tăng 0,2% lên 46.850 nhân dân tệ/ tấn.

Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo phiên đầu tháng tăng do đồng yên Nhật Bản suy giảm và số liệu sản xuất của Trung Quốc tăng nhẹ, nhưng giá dầu thô giảm ảnh hưởng đến thị trường, các đại lý cho biết.

Trên Sở giao dịch hàng hóa Tokyo, giá cao su giao kỳ hạn tháng 9 tăng 1,3 yên/kg, lên 234,5 yên/kg (tương đương 2,28 USD)/kg.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa
ĐVT
Giá
+/-
+/- (%)
Dầu thô WTI
USD/thùng
99,74
-1,84
-1,81%
Dầu Brent
USD/thùng
105,64
+0,02
+0,02%
Dầu thô TOCOM
JPY/kl
65.630,00
-630,00
-0,95%
Khí thiên nhiên
USD/mBtu
4,25
-0,03
-0,63%
Xăng RBOB FUT
US cent/gallon
286,75
-5,04
-1,73%
Dầu đốt
US cent/gallon
288,78
0,00
0,00%
Dầu khí
USD/tấn
886,25
-7,50
-0,84%
Dầu lửa TOCOM
JPY/kl
78.730,00
-650,00
-0,82%
Vàng New York
USD/ounce
1.283,50
+3,50
+0,27%
Vàng TOCOM
JPY/g
4.290,00
+20,00
+0,47%
Bạc New York
USD/ounce
19,80
+0,04
+0,22%
Bạc TOCOM
JPY/g
66,30
+0,60
+0,91%
Bạch kim giao ngay
USD/t oz.
1.430,25
+6,00
+0,42%
Palladium giao ngay
USD/t oz.
777,85
-2,89
-0,37%
Đồng New York
US cent/lb
304,20
+0,75
+0,25%
Đồng LME 3 tháng
USD/tấn
6.660,00
+15,00
+0,23%
Nhôm LME 3 tháng
USD/tấn
1.795,50
+10,50
+0,59%
Kẽm LME 3 tháng
USD/tấn
1.968,00
-15,00
-0,76%
Thiếc LME 3 tháng
USD/tấn
22.950,00
+150,00
+0,66%
Ngô
US cent/bushel
506,75
-0,75
-0,15%
Lúa mì CBOT
US cent/bushel
686,50
+1,25
+0,18%
Lúa mạch
US cent/bushel
415,75
+4,50
+1,09%
Gạo thô
USD/cwt
15,68
-0,01
-0,06%
Đậu tương
US cent/bushel
1.494,00
+9,50
+0,64%
Khô đậu tương
USD/tấn
484,00
+1,30
+0,27%
Dầu đậu tương
US cent/lb
42,00
+0,60
+1,45%
Hạt cải WCE
CAD/tấn
481,70
+5,20
+1,09%
Cacao Mỹ
USD/tấn
2.943,00
-12,00
-0,41%
Cà phê Mỹ
US cent/lb
175,25
-2,65
-1,49%
Đường thô
US cent/lb
17,18
-0,59
-3,32%
Nước cam cô đặc đông lạnh
US cent/lb
150,90
-4,10
-2,65%
Bông
US cent/lb
91,81
-0,26
-0,28%
Lông cừu (SFE)
US cent/kg
1.027,00
0,00
0,00%
Gỗ xẻ
USD/1000 board feet
344,30
+3,30
+0,97%
Cao su TOCOM
JPY/kg
234,00
-0,50
-0,21%
Ethanol CME
USD/gallon
2,77
-0,02
-0,82%
T.Hải

Nguồn: Vinanet/Reuters, Bloomberg