Theo Hiệp hội thuốc lá Việt Nam, năm 2004 lượng thuốc lá lậu vào Việt Nam khoảng 400 triệu bao thì đến năm 2008 đã lên tới trên 730 triệu bao, gây thất thu hằng năm từ 2.500- 3.000 tỷ đồng cho ngân sách Nhà nước. Vấn nạn thuốc lá lậu không chỉ là của riêng mỗi quốc gia mà đã trở thành vấn đề toàn cầu. Đối với Việt Nam, Nhà nước ta rất sớm nhận thấy tầm quan trọng của công tác kiểm soát thuốc lá. Cụ thể, ngày 11/4/2004 Chủ tịch nước đã ký duyệt Quyết định số 877/2004/QĐ- CTN phê duyệt Công ước Khung về Kiểm soát thuốc lá(FCTC) của tổ chức Y tế thế giới, trong đó có điều 15 quy định cụ thể về buôn bán bất hợp pháp các sản phẩm thuốc lá.
Từ khi tham phê chuẩn Công ước khung tới nay, Việt Nam tích cực tham gia nhiều cam kết: tăng thuế tiêu thụ đặc biệt, cấm quảng cáo và khuyến mại thuốc lá và gần đây nhất Chính phủ đã ban hành nghị định số 43/2009/NĐ-CP ngày 7/5/2009 sửa đổi Nghị định 59/2006/NĐ-CP bổ sung mặt hàng thuốc lá điều, xì gà và các dạng thuốc lá thành phẩm khác vào danh mục cấm nhập lậu. Ông Nguyễn Hùng Dũng, Cục trưởng Cục Quản lý thị trường (Bộ Công Thương) khẳng định, đây là văn bản mang tính pháp lý cao để các cơ quan chức năng như hải quan, biên phòng, Quản lý thị trường…thực thi hiệu quả công tác chống buôn lậu thuốc lá.
Nhằm đẩy mạnh việc thực thi có hiệu quả các chính sách Công ước khung về Phòng chống tác hại thuốc lá (FCTC), nhất là công tác buôn bán bất hợp phát các sản phẩm thuốc lá, Hội nghị các bên về FCTC của tổ chức Y tế thế giới (WTO) về kiểm soát thuốc lá đã quyết định thành lập một cơ quan đàm phám, mở rộng đối với tất cả các bên nhằm soạn thảo và đàm phán một Nghị định thư (NĐT) về buôn bán bất hợp pháp các sản phẩm thuốc lá, tạo ra một hành lang pháp lý và hợp tác trên toàn cầu. NĐT gồm 10 phần và 49 Điều, được xây dựng dựa trên và bổ sung vào điều khoản của Điều 15 Công ước. Theo đó, Việt Nam phải tham gia đàm phán nghị định thư.
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Tú cho biết: Việt Nam ủng hộ những yêu cầu bắt buộc cần thiết trong vấn đề chống thuốc lá lậu toàn cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Thứ trưởng nhấn mạnh, do đó Việt Nam cần thiết phải có khung pháp lý quốc tế để đấu tranh chống vấn nạn này. Tuy nhiên, nghị định thư phải xây dựng phù hợp với luật pháp Việt Nam, tạo ra hành lang pháp lý và hợp tác quốc tế về chống buôn bán bất hợp pháp các sản phẩm thuốc lá trên toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Vì vậy, các Bộ ngành cần đưa ra những vấn đề cụ thể liên quan tới từng đơn vị được thể hiện trong NĐT để có những điểm chung và đồng thuận trước khi Việt Nam tham gia đàm phán các bên tại Thuỵ Sỹ.
Vấn đề khó nhất hiện nay đối với việc tham gia đàm phán NĐT là quá trình theo dõi thông tin, theo dõi hợp tác các bộ ngành về con đường đi của thuốc lá bất hợp pháp để đưa ra được những ý kiến thống nhất trong việc tham gia đàm phán các bên. Trước đây, mọi cuộc đàm phán đều do Bộ Y tế đảm nhận, song đối với việc đàm phán NĐT về sản xuất buốn bán bất hợp pháp các sản phẩm thuốc lá lại là lĩnh vực do Bộ Công Thương quản lý, vì vậy trong đợt đàm phán này, Bộ Công Thương “gánh” trọng trách đảm nhận và làm đầu mối trong việc lấy ý kiến các bộ, ngành để đưa ra những ý kiến thống nhất, phù hợp với pháp luật Việt Nam như: Luật hình sự, Pháp lệnh xử lý vi phạm vi phạm hành chính...
Bên cạnh những vấn đề chung toàn cầu thì nhiều điểm còn chưa phù hợp với Nước ta. Hiệp hội thuốc lá Việt Nam cho rằng, vấn đề theo dõi đường đi và lần theo dấu vết (chứng thực sản phẩm; chứng nhận nộp thuế và theo dõi đường đi và lần theo dấu vết) của NĐT đưa ra chưa phù hợp. Do đó, NĐT nên đưa ra những tiêu chuẩn tối thiểu về theo dõi đường đi và lần theo dấu vết, chứ không nên xây dựng một hệ thống toàn cầu đặt tiền và không phù hợp trong nhiều hoàn cảnh. Theo Hiệp hội, việc chứng nhận nộp thuế và chứng thực sản phẩm là những vấn đề mang tính quốc nội và liên quan tới bí quyết công nghệ, nên các công ty có quyền lựa chọn công nghệ phù hợp để đảm bảo việc mục tiêu liên quan đến hai yếu tố này. Kinh phí xây dựng hệ thống này sẽ làm tăng chi phí sản xuất nhiều lần trong khi các nhà sản xuất đã thực hiện dán tem thuế (chứng nhận nộp thuế) và áp dụng kỹ thuật chống hàng giả (chứng thực sản phẩm). Những tiêu chí này, không chỉ Việt Nam mà nhiều nước trên toàn cầu đã thực hiện đầy đủ để bảo về quyền lợi của mình.
Bên cạnh đó, có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề bán hàng qua mạng. Hiệp hội thuốc lá ủng hộ cấm kinh doanh thuốc lá và các sản phẩm thuốc lá thông qua mạng internet, mạng viễn thông, nhưng Vụ Công nghiệp nhẹ (Bộ Công Thương) lại cho rằng, không nên cấm hoàn toàn chỉ nên cấm hình thức bán lẻ qua mạng còn việc bán buôn có tư cách pháp nhân thì được thực hiện bình thường. Việc xử lý vi phạm áp dụng hình phạt ít nhất 4 năm đối với những hành vi buôn bán bất hợp pháp nghiêm trọng và nhà sản xuất phải thanh toán 1 khoản tương đương với khoản thất thu cũng là vấn đề cần thay đổi cho phù hợp, bởi thực tế các nhà sản xuất đã tuân thủ đầy đủ các quy định pháp lý. Về chính sách thuế cũng cần được xem xét lộ trình phù hợp với từng quốc gia để tránh vô tình tạo nên điều kiện cho kinh doanh thuốc lá bất hợp phát phát triển. Việc cấp giấy phép trong NĐT có nhiều quy định chưa rõ ràng như việc cấp phép cho việc vận chuyển khối lượng lớn thuốc lá gây vướng mắc sau này cho các doanh nghiệp sản xuất, bởi không rõ ràng trong việc quy định thế nào là khối lượng lớn…
Bên cạnh những vẫn đề chính, hội thảo đưa ra nhiều ý kiến khác nhau về các vấn đề như: cấm tất cả các ưu đãi về thuế và pháp lý đối với sản phẩm thuốc lá, kể cả việc bán hàng giảm thuế hay miễn thuế trong khu vực thương mại tự do và kinh doanh hàng miễn thuế; các khái niệm về sản phẩm thuốc lá có bao gồm thuốc lá điện tử hay không…Cục phòng khám chữa bệnh (Bộ Y tế) cho biết, để các bên đưa ra được những ý kiến phù hợp pháp luật sở tại, FCTC đã tổ chức tư vấn khu vực cho các bên trước khi cuộc đàm phán diễn ra tại Thuỵ Sỹ. Đây là điều kiện và cơ hội cho Việt Nam cũng như các quốc gia khác kham khảo và đưa ra những ý kiến thống nhất trước khi ra đàm phán.
(CT)
Nguồn:Tin tham khảo