menu search
Đóng menu
Đóng

Giá lúa gạo ngày 12/3: Thị trường trong nước ổn định, gạo xuất khẩu tiếp tục nhích lên

16:03 12/03/2026

Ngày 12/3, thị trường lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung không có nhiều biến động. Giá lúa và gạo trong nước duy trì ổn định, trong khi giá gạo xuất khẩu của Việt Nam ghi nhận xu hướng tăng nhẹ so với trước đó.
 
Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang cùng hệ thống cập nhật của Lúa gạo Việt, một số loại gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu đã điều chỉnh tăng nhẹ. Trong đó, gạo nguyên liệu OM 5451 tăng khoảng 100 đồng/kg, hiện dao động từ 8.550 – 8.700 đồng/kg. Các loại gạo khác giữ mức giá tương đối ổn định như: gạo nguyên liệu OM 380 khoảng 7.500 – 7.600 đồng/kg; Đài Thơm 8 từ 9.150 – 9.350 đồng/kg; CL 555 từ 7.900 – 8.010 đồng/kg; IR 504 khoảng 8.000 – 8.100 đồng/kg; OM 18 từ 8.900 – 9.100 đồng/kg. Gạo Sóc Thơm giữ mức 7.500 – 7.600 đồng/kg, còn gạo thành phẩm IR 504 dao động khoảng 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Tại các chợ bán lẻ, giá gạo phổ biến nhìn chung đi ngang so với những ngày trước. Một số loại gạo cao cấp vẫn giữ mức giá khá cao như gạo Nàng Nhen khoảng 28.000 đồng/kg, gạo Hương Lài khoảng 22.000 đồng/kg và gạo Nhật cũng ở mức 22.000 đồng/kg. Gạo Nàng Hoa hiện khoảng 21.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài và gạo Sóc Thái khoảng 20.000 – 22.000 đồng/kg. Trong khi đó, các dòng gạo phổ thông như gạo trắng thường dao động khoảng 16.000 đồng/kg, gạo Sóc thường từ 16.000 – 17.000 đồng/kg và gạo thường ở mức 12.000 – 13.000 đồng/kg. Gạo Jasmine hiện phổ biến trong khoảng 13.000 – 14.000 đồng/kg.
Đối với mặt hàng lúa tươi, giá thu mua tại nhiều địa phương cũng duy trì ổn định. Cụ thể, lúa OM 18 dao động từ 6.000 – 6.100 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 khoảng 6.100 – 6.200 đồng/kg; lúa IR 50404 ở mức khoảng 5.500 đồng/kg. Lúa OM 5451 được thu mua trong khoảng 5.800 – 6.000 đồng/kg; lúa OM 4218 từ 6.000 – 6.200 đồng/kg, trong khi lúa OM 34 thấp hơn, khoảng 5.200 – 5.400 đồng/kg.
Diễn biến thị trường tại một số địa phương cho thấy hoạt động mua bán lúa Đài Thơm 8 và OM 18 có phần khởi sắc. Tại An Giang và Cần Thơ, nhiều nhà máy và kho thu mua đã đặt cọc lúa gần ngày thu hoạch thông qua thương lái, chủ yếu để phục vụ các đơn hàng xuất khẩu sang Philippines. Giá thu mua vì vậy vẫn giữ ở mức ổn định. Trong khi đó, tại Đồng Tháp, nhu cầu thu mua chậm hơn, nhiều thương lái tạm ngừng mua lúa còn xa ngày thu hoạch. Ở Cà Mau và Vĩnh Long, giao dịch trên thị trường diễn ra khá trầm lắng, giá hầu như không thay đổi.
Trên thị trường quốc tế, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục có xu hướng tăng nhẹ. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm hiện được chào bán ở mức 400 – 415 USD/tấn; gạo Jasmine đạt khoảng 430 – 434 USD/tấn; trong khi gạo 100% tấm dao động 316 – 320 USD/tấn.
So với các nước xuất khẩu lớn khác, giá gạo của Việt Nam vẫn ở mức cạnh tranh. Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm hiện được giao dịch khoảng 381 – 385 USD/tấn và gần như không thay đổi so với trước đó. Giá gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ duy trì trong khoảng 351 – 355 USD/tấn, còn gạo đồ 5% tấm khoảng 350 – 354 USD/tấn. Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm của Pakistan đang dao động ở mức 362 – 366 USD/tấn.
Nhìn chung, thị trường lúa gạo trong nước đang giữ được sự ổn định, trong khi hoạt động xuất khẩu tiếp tục duy trì tín hiệu tích cực nhờ nhu cầu từ một số thị trường nhập khẩu.

Nguồn:Vinanet/VITIC