menu search
Đóng menu
Đóng

Giá lúa gạo ngày 21/8: Lúa tươi biến động trái chiều, gạo xuất khẩu đi ngang

09:04 21/08/2026

Thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long ngày 21/8 ghi nhận diễn biến phân hóa. Giá một số loại lúa tươi tăng, giảm trái chiều, trong khi giá gạo nguyên liệu xuất khẩu điều chỉnh nhẹ. Ở thị trường bán lẻ và xuất khẩu, mặt bằng giá nhìn chung ổn định.
 
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi IR 50404 tăng 200 đồng/kg, lên 6.400 - 6.500 đồng/kg. Ngược lại, lúa OM 34 và OM 5451 cùng giảm 100 đồng/kg, lần lượt xuống 6.100 - 6.200 đồng/kg và 6.600 - 6.700 đồng/kg. Các loại lúa thơm như Đài Thơm 8 và OM 18 tiếp tục giữ giá tương đối tốt, lần lượt ở mức 6.900 - 7.000 đồng/kg và 6.800 - 7.000 đồng/kg.
Tại các địa phương Đồng bằng sông Cửu Long, hoạt động giao dịch vẫn khá trầm lắng. Ở Đồng Tháp, nhu cầu mua lúa mới chậm, một số thương lái tạm ngưng mua khiến giá có xu hướng giảm. Tại An Giang, lượng bạn hàng hỏi mua chưa nhiều, trong khi tại Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, giao dịch nhìn chung yếu và giá tương đối ổn định. Diễn biến này cho thấy nguồn cung vẫn khá dồi dào, trong khi sức mua chưa đủ mạnh để tạo mặt bằng tăng mới.
Giá lúa tươi ngày 21/8/2026

Loại lúa

Giá ngày 21/8 (đồng/kg)

So với hôm trước

IR 50404 (tươi)

6.400 - 6.500

Tăng 200

OM 34 (tươi)

6.100 - 6.200

Giảm 100

OM 5451 (tươi)

6.600 - 6.700

Giảm 100

Đài Thơm 8 (tươi)

6.900 - 7.000

Đi ngang

OM 18 (tươi)

6.800 - 7.000

Đi ngang

Ở phân khúc gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, giá có xu hướng điều chỉnh nhẹ. Gạo nguyên liệu IR 504 giảm 50 đồng/kg, xuống 9.700 - 9.750 đồng/kg; CL 555 giảm 50 đồng/kg, còn 9.750 - 9.850 đồng/kg. Trong khi đó, OM 5451 giữ ở 9.300 - 9.400 đồng/kg, OM 18 ở 8.700 - 8.850 đồng/kg, Đài Thơm 8 ở 9.200 - 9.400 đồng/kg, OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Diễn biến trên cho thấy sức mua đối với nguyên liệu chưa có sự cải thiện đồng đều. Một số chủng loại có thể được các nhà máy bổ sung theo nhu cầu thực tế, nhưng chưa hình thành xu hướng tăng trên diện rộng. Do đó, khả năng giá gạo nguyên liệu tăng mạnh trong ngắn hạn vẫn còn hạn chế, nhất là khi giá xuất khẩu chưa tạo được động lực mới.
Phụ phẩm và gạo bán lẻ ổn định
Giá phụ phẩm tiếp tục trong khoảng 7.350 - 8.800 đồng/kg. Trong đó, tấm thơm giảm 50 đồng/kg xuống 8.700 - 8.800 đồng/kg, còn cám giảm 100 đồng/kg, dao động 7.350 - 7.550 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, giá gạo nhìn chung đi ngang. Gạo Nàng Nhen tiếp tục có mức giá cao nhất, khoảng 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg. Jasmine dao động 16.500 - 17.000 đồng/kg, gạo Đài thơm 15.000 - 16.000 đồng/kg và gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg. Gạo thường phổ biến 13.500 - 14.500 đồng/kg.
Các loại gạo Sóc thường, Sóc Thái, gạo Nhật và OM 18 lần lượt giữ quanh 14.000 - 15.000 đồng/kg, 20.000 đồng/kg, 22.000 đồng/kg và 15.000 - 16.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp cũng không có biến động đáng kể. Nếp IR 4625 tươi được giao dịch ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg, trong khi nếp 3 tháng khô ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Giá gạo xuất khẩu đi ngang
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục ổn định. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động 500 - 505 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 370 - 374 USD/tấn; gạo Jasmine 538 - 542 USD/tấn.
Trên thị trường quốc tế, gạo 5% tấm của Thái Lan dao động 450 - 454 USD/tấn, thấp hơn đáng kể so với gạo thơm 5% tấm của Việt Nam nhưng vẫn cao hơn nhiều phân khúc gạo trắng phổ thông. Gạo 100% tấm của Thái Lan ở mức 374 - 378 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động 360 - 364 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 292 - 296 USD/tấn. Mặt bằng giá thấp của Ấn Độ tiếp tục tạo sức ép cạnh tranh đối với các nhà xuất khẩu trong khu vực, đặc biệt ở phân khúc gạo phổ thông. 
Nhìn chung, thị trường lúa gạo ngày 21/8 chưa xuất hiện tín hiệu của một đợt tăng giá đồng loạt. Ở đầu nguồn, giá lúa tươi biến động trái chiều khi IR 50404 tăng nhưng OM 34 và OM 5451 giảm. Hoạt động thu mua tại nhiều địa phương vẫn chậm, phản ánh sức mua chưa thực sự mạnh.
Trong khi đó, gạo nguyên liệu cũng chưa có xu hướng tăng rõ rệt khi IR 504 và CL 555 cùng giảm 50 đồng/kg. Giá bán lẻ ổn định cho thấy những biến động ở khâu nguyên liệu chưa tạo áp lực đáng kể lên thị trường tiêu dùng.
Đối với xuất khẩu, cạnh tranh từ nguồn cung giá thấp của Ấn Độ vẫn là yếu tố đáng chú ý. Trong bối cảnh nhu cầu quốc tế chưa có sự bứt phá rõ ràng, giá gạo Việt Nam nhiều khả năng tiếp tục duy trì ổn định trong ngắn hạn. Diễn biến đơn hàng xuất khẩu, tốc độ thu mua nguyên liệu của doanh nghiệp và lượng lúa đưa ra thị trường sẽ tiếp tục là những yếu tố quyết định xu hướng giá trong thời gian tới.
Nhìn chung, thị trường lúa gạo ngày 21/8 duy trì trạng thái ổn định là chủ đạo, nhưng có sự phân hóa giữa từng chủng loại. Lúa tươi biến động trái chiều, gạo nguyên liệu điều chỉnh nhẹ, trong khi giá gạo bán lẻ và xuất khẩu chưa có thay đổi đáng kể.
Giá gạo nguyên liệu giảm nhẹ

Gạo nguyên liệu

Giá ngày 21/8 (đồng/kg)

So với hôm trước

IR 504

9.700 - 9.750

Giảm 50

CL 555

9.750 - 9.850

Giảm 50

OM 5451

9.300 - 9.400

Đi ngang

OM 18

8.700 - 8.850

Đi ngang

Đài Thơm 8

9.200 - 9.400

Đi ngang

OM 380

7.500 - 7.600

Đi ngang

Sóc thơm

7.500 - 7.600

Đi ngang

Nguồn:Vinanet/VITIC