menu search
Đóng menu
Đóng

Giá lúa gạo ngày 26/5: Thị trường giao dịch chậm, gạo nguyên liệu xuất khẩu giảm nhẹ

15:12 26/05/2026

Thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày 26/5 tiếp tục duy trì trạng thái ổn định nhưng giao dịch còn chậm. Nguồn lúa khô được chào bán khá nhiều trong khi hoạt động mua bán lúa tươi Hè Thu sớm vẫn trầm lắng. Một số mặt hàng gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu ghi nhận điều chỉnh giảm nhẹ sau nhiều phiên đi ngang.
 
Tại các tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau và Vĩnh Long, giao dịch diễn ra cầm chừng do nông dân tiếp tục neo giá bán. Thương lái mua dè dặt khiến thanh khoản thị trường chưa cải thiện đáng kể. Ở Tây Ninh, sức mua yếu nhưng mặt bằng giá vẫn giữ ổn định.
Hiện lúa OM 18 và Đài Thơm 8 tươi dao động quanh mức 6.500 – 6.700 đồng/kg. Lúa Jasmine và Nàng Hoa 9 duy trì ở mức 6.500 – 6.800 đồng/kg. Nhóm lúa chất lượng cao như ST24-ST25 phổ biến từ 7.000 – 7.300 đồng/kg, trong khi lúa Nhật đạt 7.200 – 7.500 đồng/kg.
Ở phân khúc trung bình, IR 50404 dao động 5.400 – 5.500 đồng/kg; OM 380 ở mức 5.700 – 6.000 đồng/kg; OM 5451 từ 5.800 – 6.000 đồng/kg. Thị trường nếp gần như không có biến động mới so với phiên trước.
Gạo nguyên liệu xuất khẩu quay đầu giảm nhẹ
Trên thị trường gạo, hoạt động thu mua của các kho vẫn diễn ra chậm. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), lượng hàng về bến ít, giá các loại gạo nhìn chung ổn định. Riêng khu vực An Cư ghi nhận thị trường trầm lắng hơn và một số mặt hàng giảm nhẹ so với hôm qua.
Theo cập nhật từ các doanh nghiệp và địa phương, gạo nguyên liệu OM 5451 giảm khoảng 50 đồng/kg, xuống còn 9.500 – 9.600 đồng/kg. Gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 giảm khoảng 100 đồng/kg, dao động quanh 9.000 – 9.200 đồng/kg.
Một số chủng loại khác vẫn giữ giá tương đối ổn định như:
• Gạo nguyên liệu IR 504: 8.400 – 8.550 đồng/kg
• Gạo nguyên liệu OM 18: 8.700 – 8.850 đồng/kg
• Gạo nguyên liệu Đài Thơm 8: 9.200 – 9.400 đồng/kg
• Gạo nguyên liệu OM 380: 7.500 – 7.600 đồng/kg
• Gạo thành phẩm IR 504: khoảng 10.750 đồng/kg
Tại thị trường bán lẻ, giá gạo tiêu dùng hầu như không thay đổi. Gạo Nàng Nhen tiếp tục là loại có giá cao nhất, khoảng 28.000 đồng/kg. Gạo thơm các loại dao động 17.000 – 22.000 đồng/kg, còn gạo thường phổ biến ở mức 12.000 – 14.000 đồng/kg. 
Giá phụ phẩm tiếp tục ổn định trong biên độ hẹp. Tấm 3-4 hiện ở mức 7.600 – 7.700 đồng/kg, trong khi giá cám dao động 7.800 – 7.900 đồng/kg. Phân khúc nếp cũng không ghi nhận biến động đáng kể, với nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg. 
Trên thị trường quốc tế, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục giữ lợi thế ở phân khúc gạo chất lượng cao. Gạo Jasmine được chào bán phổ biến quanh 524 – 528 USD/tấn, trong khi gạo thơm 5% tấm dao động 505 – 520 USD/tấn.
Đối với các dòng xuất khẩu chủ lực, gạo 5% tấm của Việt Nam hiện ở mức 500 – 510 USD/tấn; gạo 25% tấm khoảng 470 – 480 USD/tấn; gạo nếp từ 600 – 620 USD/tấn.
Trong khi đó, gạo 5% tấm của Thái Lan dao động 434 – 438 USD/tấn, còn Ấn Độ tiếp tục duy trì mức thấp hơn đáng kể, khoảng 342 – 346 USD/tấn nhờ nguồn cung dồi dào sau khi nước này nới lỏng chính sách xuất khẩu. 
Theo số liệu thống kê, trong 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 3,37 triệu tấn gạo, thu về 1,58 tỷ USD. Dù sản lượng chỉ giảm nhẹ, kim ngạch lại giảm mạnh do giá xuất khẩu bình quân liên tục đi xuống.
Áp lực cạnh tranh gia tăng sau khi Ấn Độ quay lại thị trường xuất khẩu khiến giá gạo thế giới giảm đáng kể. Bên cạnh đó, Indonesia – một trong những khách hàng lớn trước đây – đang hạn chế nhập khẩu nhờ sản lượng nội địa tăng mạnh.
Ở chiều ngược lại, Philippines tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất của gạo Việt Nam. Trong 4 tháng đầu năm, xuất khẩu sang thị trường này tăng khá tích cực nhờ nhu cầu bổ sung nguồn cung trong bối cảnh thời tiết bất lợi ảnh hưởng tới sản xuất nội địa.

Nguồn:Vinanet/VITIC