menu search
Đóng menu
Đóng

Thị trường lúa gạo ngày 23/10: Giá lúa gạo trong nước biến động trái chiều

09:59 23/10/2026

Thị trường lúa gạo ngày 23/10 ghi nhận diễn biến trái chiều tại Đồng bằng sông Cửu Long khi một số loại lúa tươi tăng giá, trong khi Đài Thơm 8 giảm nhẹ. Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam cơ bản ổn định, song áp lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế vẫn hiện hữu.
 
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, ngày 23/10, giá lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long có sự điều chỉnh ở một số chủng loại. Trong đó, IR 50404, OM 34 và OM 5451 cùng tăng 100 đồng/kg; ngược lại, Đài Thơm 8 giảm 100 đồng/kg. Các loại lúa còn lại duy trì mức giá ổn định.
Cụ thể, lúa tươi Đài Thơm 8 được thu mua ở mức 6.300 – 6.500 đồng/kg; IR 50404 đạt 5.900 – 6.100 đồng/kg; OM 34 ở mức 5.900 – 6.000 đồng/kg; OM 5451 dao động 6.100 – 6.200 đồng/kg. Trong khi đó, lúa OM 18 giữ mức 6.400 – 6.600 đồng/kg và DS1 ở mức 6.500 – 6.600 đồng/kg.
Hoạt động mua bán tại nhiều địa phương vẫn diễn ra chậm, khiến thị trường nhìn chung chưa có nhiều chuyển biến. Tại An Giang, giao dịch tiếp tục trầm lắng, giá lúa chỉ điều chỉnh nhẹ. Trong khi đó, giá lúa tại Cần Thơ, Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long và Cà Mau có xu hướng nhích lên. 
Ở phân khúc gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, giá các chủng loại chủ yếu duy trì ổn định. Gạo IR 504 dao động 8.900 – 9.000 đồng/kg; CL 555 ở mức 8.800 – 8.900 đồng/kg; OM 5451 đạt 9.300 – 9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700 – 8.850 đồng/kg. Gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 được giao dịch trong khoảng 9.200 – 9.400 đồng/kg, trong khi OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500 – 7.600 đồng/kg.
Đối với nhóm phụ phẩm, diễn biến giá không đồng nhất. Tấm thơm tăng 100 đồng/kg, lên mức 9.400 – 9.500 đồng/kg; ngược lại, giá cám giảm thêm 100 đồng/kg, xuống còn 7.850 – 8.100 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, giá gạo ở các chợ nhìn chung không thay đổi. Gạo Nàng Nhen tiếp tục có giá cao nhất trong nhóm được khảo sát, ở mức 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài và gạo Nhật cùng ở mức 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa đạt 21.000 đồng/kg. Gạo thơm Thái hạt dài được bán với giá 20.000 – 22.000 đồng/kg, gạo Sóc Thái ở mức 20.000 đồng/kg và gạo thơm Jasmine dao động 17.000 – 18.000 đồng/kg.
Các loại gạo phổ thông có giá thấp hơn. Gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg; gạo thường dao động 14.000 – 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường, Đài Thơm 8 và OM 18 cùng ở mức 15.000 – 16.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp tiếp tục ổn định, với nếp 3 tháng khô được giao dịch ở mức 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi và IR 5625 tươi cùng dao động 7.300 – 7.500 đồng/kg.
Giá gạo xuất khẩu Việt Nam ổn định, cạnh tranh quốc tế gia tăng
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam hiện tương đối ổn định. Gạo thơm 5% tấm được chào bán ở mức 470 – 475 USD/tấn; gạo trắng 5% tấm dao động 423 – 427 USD/tấn; gạo Jasmine đạt 518 – 522 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm tăng 2 USD/tấn, lên 478 USD/tấn. Trong khi đó, giá cùng chủng loại của Pakistan không thay đổi, duy trì ở mức 408 – 412 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo trắng 5% tấm được giao dịch trong khoảng 384 – 388 USD/tấn, còn gạo đồ 5% tấm ổn định ở mức 380 – 384 USD/tấn.
Mặt bằng giá cho thấy gạo xuất khẩu Việt Nam tiếp tục cạnh tranh với các nguồn cung lớn trong khu vực. Đặc biệt, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan đang cao hơn Việt Nam, trong khi gạo Pakistan và Ấn Độ có mức giá thấp hơn, tạo sức ép cạnh tranh về giá tại một số phân khúc thị trường.
Theo số liệu xuất khẩu được cung cấp, trong 9 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 6,363 triệu tấn gạo, thu về 3,057 tỷ USD, giảm lần lượt 6,72% về lượng và 12,26% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu bình quân đạt 480,41 USD/tấn, giảm 30,34 USD/tấn.
Mức giảm mạnh hơn về trị giá so với sản lượng cho thấy giá xuất khẩu bình quân đang chịu sức ép. Trong bối cảnh các nước xuất khẩu lớn duy trì nguồn cung và cạnh tranh về giá, ngành gạo Việt Nam cần tiếp tục chú trọng chất lượng, phát triển các dòng gạo thơm và gạo có giá trị gia tăng cao, đồng thời đa dạng hóa thị trường nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu.

Nguồn:Vinanet/VITIC