Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Đức khá đa dạng, tập trung vào nhóm hàng công nghiệp chế biến như điện thoại và linh kiện, máy vi tính, sản phẩm điện tử, máy móc thiết bị, dệt may, giày dép, cùng với các mặt hàng nông sản như cà phê, hạt điều và rau quả.
Trong đó, điện thoại các loại và linh kiện là mặt hàng dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu trong tháng 2/2026, đạt 122,45 triệu USD, tăng mạnh 49,66% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, mặt hàng này đạt 256,27 triệu USD, tiếp tục giữ vai trò là nhóm hàng chủ lực.
Tiếp đến là cà phê đạt 112,24 triệu USD trong tháng 2, tuy giảm 28,84% so với cùng kỳ, nhưng tính chung 2 tháng đầu năm vẫn đạt 287,7 triệu USD, tăng 3,13%, cho thấy xu hướng phục hồi về dài hạn.
Nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 100,11 triệu USD trong tháng 2/2026, tăng 22,16% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 2 tháng đạt 215,87 triệu USD, tăng 1,82%, tiếp tục là nhóm hàng có tỷ trọng lớn trong cơ cấu xuất khẩu.
Một số nhóm hàng chủ lực khác gồm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 94,51 triệu USD (giảm nhẹ 2,15%); giày dép các loại đạt 39,53 triệu USD (giảm 10,7%); hàng dệt may đạt 39,29 triệu USD (giảm 3,73%) trong tháng 2/2026.
Bên cạnh đó, một số nhóm hàng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ trong tháng 2 như kim loại thường và sản phẩm tăng mạnh 261,6%; sản phẩm từ sắt thép tăng 72,74%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 23,74%; hàng rau quả tăng 68,78%; túi xách, vali, mũ, ô dù tăng 5,37%.
Đáng chú ý, một số mặt hàng có mức tăng trưởng cao trong 2 tháng đầu năm như đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận tăng 454,7%; kim loại thường và sản phẩm tăng 321,24%; phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 65,55%; hàng rau quả tăng 82,94%, cho thấy tiềm năng mở rộng xuất khẩu ở nhiều nhóm hàng.
Ở chiều ngược lại, một số mặt hàng ghi nhận sụt giảm so với cùng kỳ trong tháng 2/2026 như sắt thép các loại giảm mạnh 98,09%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày giảm 55,51%; sản phẩm mây, tre, cói và thảm giảm 55,62%; cao su giảm 32,24%; hạt tiêu giảm 25,46%.
Xét về quy mô trong 2 tháng đầu năm 2026, ngoài các nhóm hàng dẫn đầu, các mặt hàng có kim ngạch đáng kể còn bao gồm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 205,65 triệu USD; hàng dệt may đạt 102,9 triệu USD; giày dép các loại đạt 98,06 triệu USD; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 76,09 triệu USD. Đây tiếp tục là các nhóm hàng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu sang thị trường Đức.
Nhìn chung, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Đức trong 2 tháng đầu năm 2026 duy trì mức tăng trưởng tích cực, mặc dù kim ngạch trong tháng 2 giảm mạnh so với tháng trước do yếu tố сезон và biến động nhu cầu. Nhóm hàng công nghiệp chế biến, đặc biệt là điện tử và linh kiện, tiếp tục đóng vai trò động lực chính.
Trong thời gian tới, việc tận dụng hiệu quả các cam kết trong Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), cùng với việc nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường Đức, sẽ là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục mở rộng thị phần và gia tăng kim ngạch xuất khẩu.
Kim ngạch khẩu sang Đức trong tháng 2/2026
Tính toán từ số liệu công bố ngày 10/2 của CHQ
ĐVT: USD
|
Mặt hàng
|
Tháng 2/2026
|
So với tháng 1/2026
|
So với tháng 2/2025
|
2T/2026
|
So với 2T/2025
|
|
TỔNG TRỊ GIÁ
|
732.894.989
|
-27,54
|
3,47
|
1,744,383,475
|
11,06
|
|
Cà phê
|
112.242.196
|
-36,03
|
-28,84
|
287,702,066
|
3,13
|
|
Điện thoại các loại và linh kiện
|
122.454.048
|
-8,49
|
49,66
|
256,267,360
|
21,84
|
|
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
|
100.112.328
|
-13,52
|
22,16
|
215,870,486
|
1,82
|
|
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác
|
94.510.234
|
-14,96
|
-2,15
|
205,646,671
|
-6,88
|
|
Hàng dệt, may
|
39.293.398
|
-38,22
|
-3,73
|
102,897,850
|
-3,93
|
|
Giày dép các loại
|
39.526.655
|
-32,47
|
-10,7
|
98,062,977
|
-5,54
|
|
Phương tiện vận tải và phụ tùng
|
29.345.342
|
-37,22
|
17,91
|
76,087,345
|
65,55
|
|
Kim loại thường khác và sản phẩm
|
26.134.431
|
-29,08
|
261,6
|
62,983,615
|
321,24
|
|
Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận
|
5.186.878
|
-89,19
|
30,69
|
53,142,241
|
454,7
|
|
Sản phẩm từ sắt thép
|
27.801.753
|
110,77
|
72,74
|
41,005,755
|
-5,96
|
|
Hàng thủy sản
|
13.778.428
|
-33,84
|
7
|
34,605,916
|
17,52
|
|
Túi xách, ví,vali, mũ và ô dù
|
12.014.196
|
-37,1
|
5,37
|
31,116,100
|
9,1
|
|
Sản phẩm từ chất dẻo
|
11.049.166
|
-32,96
|
-11,82
|
27,531,443
|
-0,35
|
|
Gỗ và sản phẩm gỗ
|
10.932.500
|
-23,32
|
23,74
|
25,152,327
|
34,95
|
|
Hạt điều
|
7.638.538
|
-55,48
|
-7,11
|
24,797,649
|
33,17
|
|
Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện
|
8.776.835
|
-22,82
|
-24,55
|
20,148,540
|
-19,3
|
|
Hàng rau quả
|
7.464.317
|
-39,14
|
68,78
|
19,729,358
|
82,94
|
|
Hạt tiêu
|
7.269.588
|
-1,97
|
-25,46
|
14,685,416
|
-23,19
|
|
Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày
|
3.561.570
|
-47,17
|
-55,51
|
10,302,535
|
-31,18
|
|
Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc
|
2.902.995
|
-33,67
|
-11,08
|
7,279,861
|
-0,18
|
|
Cao su
|
1.273.784
|
-68,87
|
-32,24
|
5,365,974
|
56,41
|
|
Sản phẩm từ cao su
|
1.919.465
|
-31,97
|
26,93
|
4,741,061
|
5,23
|
|
Sản phẩm mây, tre, cói và thảm
|
758.148
|
-75,54
|
-55,62
|
3,857,509
|
-14,29
|
|
Sản phẩm hóa chất
|
1.064.945
|
-39,89
|
1,17
|
2,836,507
|
40,07
|
|
Sản phẩm gốm, sứ
|
813.958
|
-59,04
|
15,94
|
2,801,217
|
30,98
|
|
Đá quý, kim loại quý và sản phẩm
|
350.234
|
-53,11
|
-13,84
|
1,097,176
|
53,96
|
|
Sắt thép các loại
|
275.227
|
-40,66
|
-98,09
|
739,072
|
-95
|
|
Giấy và các sản phẩm từ giấy
|
336.865
|
45,63
|
90,82
|
568,183
|
-12,52
|
|
Chè
|
92.329
|
31,76
|
118,83
|
162,401
|
-2,32
|
|
Hàng hóa khác
|
44.014.638
|
-30,33
|
9,64
|
107,198,866
|
18,36
|
Nguồn:Vinanet/VITIC