Tính toán từ số liệu của Cục Hải quan Việt Nam cho thấy, xuất khẩu nhóm hàng thủy sản tháng 4/2026 tăng 9,11% so với tháng 3/2026 đạt trên 1,01 tỷ USD. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026 xuất khẩu nhóm hàng này đạt trên 3,65 tỷ USD, tăng 13,69% so với 4 tháng đầu năm 2025.
Thủy sản xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Trung Quốc trong 4 tháng đầu năm 2026, chiếm 26,04% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt gần 950,74 triệu USD, tăng mạnh 48,39% so với 4 tháng đầu năm 2025; trong đó riêng tháng 4/2026 đạt trên 244,52 triệu USD, tăng 12,5% so với tháng 3/2026 và tăng mạnh 38,5% so với tháng 4/2025.
Đứng thứ hai về kim ngạch là thị trường Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng 14,12%, đạt hơn 515,52 triệu USD, giảm 3,08% so với cùng kỳ năm 2025; riêng tháng 4/2026 xuất khẩu sang thị trường này đạt gần 172,69 triệu USD, tăng 28,91% so với tháng 3/2026 và tăng 7,01% so với tháng 4/2025.
Kế đến thị trường Nhật Bản đạt kim ngạch gần 499,72 triệu USD trong 4 tháng đầu năm 2026, tăng nhẹ 1,56% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm tỷ trọng 13,69% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Xuất khẩu thủy sản sang thị trường FTA RCEP trong 4 tháng đầu năm 2026 tăng 22,18% so với cùng kỳ năm 2025, đạt trên 2,07 tỷ USD, chiếm 56,78% trong tổng kim ngạch; Xuất khẩu sang thị trường FTA CPTTP tăng 7,4%, đạt trên 943,56 triệu USD, chiếm 25,85%; Xuất khẩu sang thị trường EU chiếm 9,05% trong tổng kim ngạch, đạt gần 330,3 triệu USD, tăng nhẹ 0,12%; Xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Đông Nam Á chiếm 6,71% trong tổng kim ngạch, đạt gần 244,93 triệu USD, tăng 16,65%.
Nhiều nhóm hàng chủ lực duy trì mức tăng trưởng khá, tạo động lực quan trọng cho toàn ngành. Trong đó, tôm tiếp tục giữ vai trò mặt hàng xuất khẩu chủ lực với kim ngạch khoảng 1,5 tỷ USD, tăng 15%, chiếm hơn 40% tổng kim ngạch toàn ngành. Đà tăng chủ yếu đến từ sự phục hồi nhu cầu tại một số thị trường châu Á, cùng mức tăng mạnh của tôm hùm và các sản phẩm tôm chế biến giá trị gia tăng.
Cá tra tiếp tục khẳng định vị thế ngành hàng trụ cột thứ hai khi đạt kim ngạch khoảng 734 triệu USD, tăng 19%. Trong bối cảnh người tiêu dùng tại nhiều quốc gia vẫn nhạy cảm với giá cả, nhóm cá thịt trắng có giá hợp lý như cá tra duy trì lợi thế cạnh tranh rõ nét. Dư địa tăng trưởng của mặt hàng này còn khá lớn tại Trung Quốc, ASEAN, Trung Đông và một số thị trường mới nổi.
Bên cạnh đó, nhóm mực, bạch tuộc cũng ghi nhận tín hiệu phục hồi tích cực với kim ngạch khoảng 234 triệu USD, tăng 17%, nhờ nhu cầu gia tăng tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và Hồng Kông (Trung Quốc). Đáng chú ý, nhiều sản phẩm giá trị cao như tôm hùm, cá rô phi, điệp, hàu tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá, phản ánh xu hướng dịch chuyển sang các phân khúc chế biến sâu, giá trị gia tăng và tiêu dùng bền vững trên thị trường quốc tế.
Biểu đồ xuất khẩu thủy sản sang các thị trường chủ yếu 4T/2026
(VITIC tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Cục HQ)

Bảng xuất khẩu thủy sản 4 tháng đầu năm 2026
(VITIC tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Cục HQ)

Nguồn:Vinanet/VITIC