1. Nhóm I - nhóm mặt hàng cần thiết nhập khẩu
Dự kiến, kim ngạch nhập khẩu năm 2009 của nhóm này đạt 62 tỷ USD. Tăng 0,1% so với năm 2007, chiếm tỷ trọng 74% tổng kim ngạch nhập khẩu. Đến năm 2010 tốc độ tăng trưởng nhóm này đạt 9,3%, đạt kim ngạch 68 tỷ USD. Chi tiết kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng chủ lực như sau:
Kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng chủ yếu nhóm I giai đoạn 2008-2010
Đơn vị tính: kim ngạch triệu USD;tăng %
|
Nội dung |
Năm 2008 |
Năm 2009 |
Năm 2010 |
GĐ 2008-2010 |
|
Trị giá |
Tăng |
Trị giá |
Tăng |
Trị giá |
Tăng |
Trị giá |
Tăng |
|
Tổng kim ngạch NK nhóm I |
62.168 |
26,7 |
62.207 |
0,1 |
6.800 |
9,3 |
192.375 |
12,0 |
|
KNNK Những mặt hàng chủ yếu |
57.995 |
23,7 |
57.725 |
-0,5 |
63.750 |
10,4 |
179.470 |
11,2 |
|
1. Thép thành phẩm |
5.000 |
-2,2 |
3.780 |
-24,4 |
3.500 |
-7,4 |
12.280 |
-11,3 |
|
2. Phôi thép |
1.565 |
41,9 |
1.125 |
-28,1 |
1.050 |
-6,7 |
3.740 |
2,4 |
|
3. Phân bón |
1.540 |
54,0 |
1.400 |
-9,1 |
1.200 |
-14,3 |
4.140 |
10,2 |
|
4. Xăng dầu |
11.200 |
45,3 |
6.000 |
-46,4 |
6.500 |
8,3 |
23.700 |
2,4 |
|
5. Chất dẻo |
3.000 |
19,7 |
2.850 |
-5,0 |
2.700 |
-5,3 |
8.550 |
3,1 |
|
6. Sợi |
800 |
8,0 |
810 |
1,3 |
900 |
11,1 |
2.510 |
6,8 |
|
7. Hoá chất nguyên liệu |
1.900 |
29,6 |
2.100 |
10,5 |
1.900 |
-9,5 |
5.900 |
10,2 |
|
8. Máy móc t/bị phụ tùng |
13.800 |
24,1 |
18.000 |
30,4 |
22.000 |
22,2 |
53.800 |
25,6 |
|
9. Tân dược |
840 |
19,5 |
950 |
13,1 |
1.050 |
10,5 |
2.840 |
14,4 |
|
10. Giấy |
750 |
25,0 |
630 |
-16,0 |
700 |
11,1 |
2.080 |
6,7 |
|
11. Điện tử, máy tính và linh kiện |
3.700 |
25,1 |
4.500 |
21,6 |
5.400 |
20,0 |
13.600 |
22,2 |
|
12. Vải |
4.500 |
13,7 |
5.200 |
15,6 |
5.800 |
11,5 |
15.500 |
13,6 |
|
13. Nguyên, phụ liệu dệt may, da |
2.450 |
13,8 |
2.800 |
14,3 |
3.100 |
10,7 |
8.350 |
12,9 |
|
14.Sản phẩm hoá chất |
1.700 |
32,3 |
1.900 |
11,8 |
1.700 |
-10,5 |
5.300 |
11,2 |
|
15. Kim loại thường |
1.850 |
-1,8 |
1.680 |
-9,2 |
1.750 |
4,2 |
5.280 |
-2,3 |
|
16. Gỗ nguyên liệu |
1.100 |
8,3 |
1.200 |
9,1 |
1.300 |
8,3 |
3.600 |
8,6 |
|
17. Thuốc trừ sâu và nguyên liệu |
500 |
30,5 |
600 |
20,0 |
700 |
16,7 |
1.800 |
22,4 |
|
18.Thức ăn chăn nuôi |
1.800 |
52,4 |
2.200 |
22,2 |
2.500 |
13,6 |
6.500 |
29,4 |
Đây là nhóm hàng thiết yếu, là đầu vào cho sản xuất và xuất khẩu, do đó phải đảm bảo và tạo thuận lợi cho nhập khẩu để ổn định sản xuất không áp dụng các biện pháp hành chính và kinh tế để quản lý. Tuy nhiên vẫn phải tính đến khả năng giảm hợp lý nhập khẩu ở nhóm này thì mới có khả năng nhập siêu vì tỷ trọng khối này chiếm tới gần 4/5 tổng giá trị nhập khẩu.
2. Nhóm II – nhóm mặt hàng nhập khẩu cần kiểm soát nhập khẩu
Nhóm mặt hàng nhập khẩu tuy cần thiết nhưng vẫn cần phải kiểm soát. Nhóm này gồm các mặt hàng: sản phẩm chế tạo từ gang thép, sản phẩm dầu gốc, gas, đá quý, kim loại quý…, chiếm tỷ trọng 16% trên tổng kim ngạch nhập khẩu. Năm 2008, kim ngạch nhập khẩu nhóm này đạt khoảng 13,4 tỷ USD, tăng 38% so với năm 2007. Trong nhóm hàng hoá này thì mặt hàng vàng cần phải được kiểm soát chặt và không cấp thêm hạn ngạch xuất khẩu.
Với việc triển khai các biện pháp kiểm soát và hạn chế nhập khẩu, dự kiến tốc độ nhập khẩu nhóm này sẽ giảm xuống còn 8,5% vào năm 2010 với kim ngạch nhập khẩu khoảng 16,5 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng bình quân 20%/năm.
|
Nội dung |
Năm 2008 |
Năm 2009 |
Năm 2010 |
2008-2010 |
|
Trị giá |
Tăng |
Trị giá |
Tăng |
Trị giá |
Tăng |
Trị giá |
Tăng |
|
Tổng số |
82.000 |
30,8 |
84.000 |
2,4 |
91.600 |
9,0 |
257.600 |
14,1 |
|
- Nhóm hàng cần nhập khẩu |
62.168 |
26,7 |
62.207 |
0,1 |
68.000 |
9,3 |
192.375 |
12,0 |
|
- Nhóm hàng NK cần kiểm soát |
13.452 |
38,1 |
15.213 |
13,1 |
16.500 |
8,5 |
45.165 |
19,9 |
|
- Nhóm hàng hạn chế nhập khẩu |
6.380 |
64,3 |
6.580 |
3,1 |
7.100 |
7,9 |
20.060 |
25,1 |
3. Nhóm III – nhóm mặt hàng hạn chế nhập khẩu
Nhóm mặt hàng hạn chế nhập khẩu gồm: nguyên phụ liệu thuốc lá, hàng tiêu dùng, ô tô nguyên chiếc dưới 12 chỗ, linh kiện ô tô dưới 12 chỗ, linh kiện và phụ tùng xe gắn máy. Tỷ trọng nhám này ở mức thấp nhất so với 2 nhóm trên, chiếm 7,8% trên tổng kim ngạch nhập khẩu.
Qua triển khai một số như tăng thuế nhập khẩu, hạn chế tiếp cận ngoại tệ… kim ngạch nhóm này đã giảm mạnh từ giữa năm 2008. Kim ngạch năm 2008 đạt 6,4 tỷ USD, tăng 64% so với 2007. Hai mặt hàng có tốc độ giảm nhiều nhất là ô tô nguyên chiếc và linh kiện dưới 12 chỗ ngồi, phụ tùng ô tô. Dự kiến, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này năm 2009 đạt 6,6 tỷ USD và 7,1 tỷ USD năm 2010, với tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2008 - 2010 là 25%/năm.
Các giải pháp đề xuất của Bộ Công thương giảm nhập khẩu, kiềm chế nhập siêu trong năm 2009
1. Các giải pháp ngắn hạn;
a. Tiếp tục thực hiện các giải pháp hạn chế nhập khẩu đã triển khai trong năm 2008 như:
- Kiểm soát việc tiếp cận ngoại tệ theo 3 nhóm hàng: nhóm cần nhập khẩu, nhóm cần kiểm soát và nhóm hạn chế nhập khẩu.
- Quản lý nhập khẩu bằng giấy phép tự động để kiểm soát nhập khẩu đối với các mặt hàng tiêu dùng. Mở rộng danh mục mặt hàng nhập khẩu phải nộp thuế ngay trước khi thông quan đối với một số mặt hàng cần hạn chế nhập khẩu.
b. Tăng cường công tác kiểm tra chất lượng hàng hoá nhập khẩu và sử dụng hàng rào kỹ thuật để hạn chế nhập khẩu; rà soát, ban hành các quy định chặt chẽ về hoá chất, chất phụ gia, chất hỗ trợ chế biến trong bảo quản hàng thực phẩm…
c. Tiếp tục thực hiện các biện pháp bình ổn thị trường, cân đối cung cầu các mặt hàng cơ bản của nền kinh tế. Trong đó, đặc biệt quan tâm việc nâng cao chất lượng công tác dự báo, cảnh báo xu hướng giá cả và thị trường thế giới trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, qua đó đề xuất những giải pháp bình ổn thị trường, cân đối cung cầu hiệu quả.
d. Tiếp tục quản lý chặt chẽ việc nhập khẩu vàng. Trong trường hợp cần thiết có thể sử dụng hạn ngạch nhập khẩu để khống chế mức nhập khẩu bằng của năm 2008 sau khi đã trừ đi phần tái xuất (khoảng 700 triệu USD).
2. Các giải pháp trung hạn và dài hạn:
a. Phát triển sản xuất các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, thay thế hàng nhập khẩu.
Bên cạnh việc thúc đẩy phát triển xuất khẩu, giảm nhập khẩu bằng việc đẩy mạnh sản xuất hàng trong nước, các loại nguyên liệu, các mặt hàng phụ trợ cho sản xuất tiêu dùng, sản xuất hàng xuất khẩu thay thế hàng nhập khẩu cũng là một biện pháp quan trọng hạn chế nhập siêu.
- Các tập đoàn, các Tổng công ty Nhà nước, các doanh nghiệp đẩy nhanh tiến độ xây dựng, sớm đưa các dự án đầu tư về điện, phân bón, thép, cơ khí, dệt may vào sản xuất nhằm thay thế các mặt hàng nhập khẩu, góp phần giảm nhập siêu.
- Triển khai mạnh và tích cực đầu tư vào sản xuất trong ngành công nghiệp phụ trợ. Một số ngành ưu tiên phát triển công nghiệp phụ trợ trong thời gian tới là: cơ khí, Dệt may, Da giầy, Điện tử.
Rà soát lại các cơ sở sản xuất các ngành phụ trợ tại công ty nhà nước, ưu tiên cấp vốn và tạo điều kiện khác để đổi mới thiết bị, thay đổi công nghệ tại những cơ sở đã có quy mô tương đối lớn. Lập chế độ tư vấn kỹ thuật và quản lý để mời các chuyên gia nước ngoài vào giúp thay đổi công nghệ và cơ chế quản lý tại các doanh nghiệp.
Đặc biệt khuyến khích tư nhân đầu tư vào lĩnh vực sản xuất các ngành công nghệp phụ trợ, với sự hỗ trợ đặc biệt về vốn, và những ưu đãi đặc biệt về thuế (miễn thuế nhập khẩu thiết bị và công nghệ, miễn thuế doanh thu,v.v..)
Một số nước đã phát triển, đặc biệt nhất là Nhật, có chương trình xúc tiến chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các nước đang phát triển. Việt Nam nên tiếp nhận nhanh sự hỗ trợ này để nhanh chóng tăng khả năng cung cấp các mặt hàng công nghiệp phụ trợ hiện có, nhất là các mặt hàng đang sản xuất tại các doanh nghiệp nhà nước.
Kêu gọi doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào việc sản xuất trong các ngành công nghiệp phụ trợ.
b. Thúc đẩy để sớm ký kết các Hiệp định song phương và đa phương thiết lập các khu vực mậu dịch tự do để tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu, qua đó giảm nhập siêu (Hiệp định đối tác kinh tế Vệt Nam – Nhật Bản, Hiệp định hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản, Hiệp định khu vực mầu dịch tự do ASEAN – Australia – New zeland, và ASEAN – ấn Độ). Trao đổi với các đối tác thương mại mà Việt Nam nhập siêu (trước hết là Trung Quốc, ASEAN, Hàn Quốc…) để phối hợp tìm giải pháp giảm nhập vào Việt Nam và tăng xuất từ Việt Nam. Điều này cũng phù hợp với các quy tắc của WTO, theo đó khuyến khích việc các thành viên có quyền yêu cầu cân bằng thương mại lẫn nhau.
c. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp và tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng đối với các ngành, sản phẩm công nghiệp nhằm bảo vệ sản phẩm trong nước khỏi sự cạnh tranh không công bằng trên thị trường trong nước, phù hợp với các quy định của WTO và các Hiệp định quốc tế mà Việt Nam ký kết. Hoàn thiện hoặc ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với hàng hoá lưu thông trên thị trường nói chung cũng như đối với hàng hoá nhập khẩu, trước mắt là đối với những mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, tiêu dùng, sức khoẻ cộng đồng và bảo vệ môi trường.
Chủ động rà soát những mặt hàng nhập khảu tăng mạnh do việc cắt giảm thuế quan theo cam kết WTO và AFTA mà trong nước có khả năng sản xuất để có biện pháp hạn chế nhập khẩu và khuyến khích sản xuất trong nước.
d. Chống lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản, trong tiêu dùng và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên trong nước. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động người dân và doanh nghiệp sử dụng hàng Việt Nam và tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu trong sản xuất và tiêu dùng.
(tin thương mại)
Nguồn:Vinanet