Giá cao su đã giảm liên tục từ tháng 7/2008 đến cuối năm 2008 và tiếp tục sang tháng 1/2009, chỉ còn 1.324 USD/tấn. Sang tháng hai, giá cao su tăng lên khoảng 7,8%, đạt 1.427 USD/tấn, cao hơn ngưỡng giá tối thiểu mà các nước xuất khẩu cao su dự kiến sẽ giảm xuất khẩu nếu giá thấp hơn 1.350 USD/tấn.
Xuất khẩu cao su thiên nhiên trong 2 tháng đầu năm 2009
|
Tháng |
Tấn (quy khô) |
Ngàn USD |
USD/tấn |
|
1/2009 |
35.005 |
46.340 |
1.324 |
|
2/2009 |
39.379 |
56.180 |
1.427 |
|
Cộng 2 tháng |
74.384 |
102.520 |
1.378 |
|
So cùng kỳ năm 2008 |
-5,3% |
-47,5% |
-44,6% |
Trong 2 tháng, chủng loại cao su được xuất khẩu nhiều nhất là SVR 3L (31.734 tấn), chiếm 42,7%, kế đến là SVR 10 (8.527 tấn), chiếm 11,5%. Latex đạt khoảng 2.831 tấn, chiếm 3,8%. Cao su tờ các loại đạt 2.437 tấn, chiếm 3,3%.
Thị trường cao su xuất khẩu lớn nhất là Trung Quốc trong 2 tháng đầu năm đã đạt 53.570 tấn, chiếm 72%. Các thị trường lớn khác là Hàn Quốc (4.600 tấn, 6,2%), Đài Loan (2.280 tấn, 3,1%), Hoa Kỳ (2.050 tấn, 2,8%), Đức (1.760 tấn, 2,4%).
Phương thức giao hàng trong 2 tháng chiếm tỷ lệ lớn là DAF (63,3%), kế đến là FOB (24,1%), CIF (5,3%) và FCA (4,1%).
Nguồn:Tin kinh tế hàng ngày