Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng từ con số nhỏ bé 15,5 triệu USD năm 1991 lên 218,1 triệu USD năm 2001 và gần 1,008 tỷ USD năm 2007, trong đó xuất khẩu tăng từ 13,3 triệu USD lên 174,9 triệu USD và 651 triệu USD, nhập khẩu tăng từ 2,2 triệu USD lên 43,2 triệu USD và 262,7 triệu USD. Trao đổi thương mại với các nước Châu Phi tăng trưởng với tốc độ bình quân cao hơn tăng trưởng ngoại thương chung của cả nước trong cùng thời kỳ, trung bình là 31% trong các năm 2001-2007.
1. Tổng quan
Cùng với chính sách thúc đẩy quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước Châu Phi và sự năng động của các doanh nghiệp trong việc khai thác các thị trường mới, kim ngạch buôn bán Việt Nam - Châu Phi đã có bước tăng trưởng nhanh.
Bảng: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Châu Phi và tỷ trọng trọng tổng kim ngạch của cả nước
Đơn vị: triệu USD
|
Năm |
Tổng kim ngạch |
Tỷ trọng |
Xuất khẩu |
Tỷ trọng |
Nhập khẩu |
Tỷ trọng |
|
1991 |
15,5 |
0,35% |
13,3 |
0,64% |
2,2 |
0,09% |
|
1996 |
39,6 |
0,22% |
26,7 |
0,37% |
12,9 |
0,12% |
|
2001 |
218,1 |
0,70% |
174,9 |
1,16% |
43,2 |
0,27% |
|
2002 |
196,2 |
0,54% |
126,9 |
0,76% |
69,3 |
0,35% |
|
2003 |
372,4 |
0,82% |
229,1 |
1,14% |
143,3 |
0,57% |
|
2004 |
577,8 |
0.99% |
407,5 |
1,54% |
170,3 |
0,53% |
|
2005 |
911,4 |
1,30% |
647,5 |
2% |
263,9 |
0,72% |
|
2006 |
832 |
1% |
610 |
1,5% |
222 |
0,5% |
|
2007 |
1007,8 |
0,9% |
683,5 |
1,4% |
324,3 |
0,5% |
Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng từ con số nhỏ bé 15,5 triệu USD năm 1991 lên 218,1 triệu USD năm 2001 và gần 1,008 tỷ USD năm 2007, trong đó xuất khẩu tăng từ 13,3 triệu USD lên 174,9 triệu USD và 651 triệu USD, nhập khẩu tăng từ 2,2 triệu USD lên 43,2 triệu USD và 262,7 triệu USD.
Trao đổi thương mại với các nước Châu Phi tăng trưởng với tốc độ bình quân cao hơn tăng trưởng ngoại thương chung của cả nước trong cùng thời kỳ, trung bình là 31% trong các năm 2001-2007.
Tỷ trọng buôn bán với Châu Phi trong tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam tăng từ 0,35% năm 1991 lên 0,7% năm 2001 và 0,9% năm 2007.
Tuy nhiên, cũng cần phải nhận thấy rằng việc buôn bán với Châu Phi đạt được tốc độ tăng trưởng cao như vậy là do trao đổi thương mại giữa hai bên có xuất phát điểm rất thấp, thêm vào đó tăng trưởng cao trong bối cảnh "cất cánh" chung của ngoại thương Việt Nam trong những năm gần đây cũng là điều dễ hiểu.
Thực tế là mặc dù có sự tăng trưởng đáng kể, buôn bán giữa Việt Nam với Châu Phi còn ở mức rất thấp. Đến nay, Châu Phi vẫn là khu vực mà nước ta có mức độ trao đổi thương mại thấp nhất so với các khu vực thị trường khác trên thế giới. Năm 2007, xuất khẩu sang châu Phi mới chỉ chiếm 1,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Đặc biệt, nếu xét tỷ trọng của Việt Nam trong kim ngạch mậu dịch của Châu Phi thì con số này còn rất nhỏ bé. Năm 2007, xuất khẩu của Việt Nam sang châu Phi mới chỉ chiếm 0,18 % tổng kim ngạch nhập khẩu của châu Phi.
Trong quan hệ thương mại với các nước Châu Phi, Việt Nam thường xuất siêu, giá trị xuất khẩu sang Châu Phi thường cao trên gấp hai lần giá trị nhập khẩu từ Châu Phi.
2. Bạn hàng xuất khẩu
Cùng với quá trình hội nhập mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam, các bạn hàng và các đối tác của Việt Nam ngày càng được mở rộng, đến năm 2001 Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với 44 nước Châu Phi và đến năm 2007 con số này đã là 53 nước. Như vậy, hiện nay Việt Nam đã có trao đổi thương mại với hầu hết các nước Châu Phi.
Bảng: Xuất khẩu sang 10 thị trường chủ yếu ở Châu Phi, 2001 – 2007
Đơn vị: triệu USD
|
Tên nước |
2001 |
2002 |
2003 |
2004 |
2005 |
2006 |
2007 |
|
Nam Phi |
29,1 |
15,5 |
22,7 |
56,8 |
111,8 |
100,7 |
119,5 |
|
Ai Cập |
28,6 |
21,8 |
14,8 |
39,1 |
45,1 |
49,0 |
97,3 |
|
Ghana |
4,7 |
8,6 |
15,3 |
31,7 |
23,4 |
38,2 |
53,3 |
|
Cốt-đi-voa |
0 |
0 |
43,0 |
32,6 |
81,1 |
54,9 |
50,0 |
|
Ăng-gô-la |
28,1 |
20,7 |
29,8 |
34,9 |
76,2 |
55,0 |
49,4 |
|
An-giê-ri |
11,7 |
3,3 |
18,2 |
13,9 |
30,9 |
34,2 |
40,5 |
|
Ni-giê-ri-a |
8,1 |
9,4 |
10,5 |
11,3 |
17,1 |
32,9 |
32,9 |
|
Tan-da-ni-a |
8,3 |
6,1 |
20,7 |
25,0 |
22,5 |
22,6 |
18,3 |
|
Ma-rốc |
1,8 |
3,0 |
3,3 |
8,2 |
8,1 |
11,1 |
27,1 |
|
Sê-nê-gan |
21,3 |
13,8 |
33,9 |
57,2 |
41,9 |
9,5 |
9,9 |
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Kim ngạch xuất khẩu và mặt hàng xuất khẩu sang 10 thị trường lớn nhất của Việt Nam năm 2007 được thể hiện ở bảng sau:
Bảng: 10 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam ở Châu Phi năm 2007
Đơn vị: triệu USD
|
TT |
Tên nước |
Kim ngạch |
Mặt hàng xuất khẩu
(theo thứ tự kim ngạch giảm dần) |
|
1 |
Nam Phi |
119,5 |
Giầy dép các loại, sản phẩm dệt may, cà phê, thuốc lá và nguyên phụ liệu thuốc lá, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, gỗ và sản phẩm gỗ, hạt tiêu, than đá, hạt điều… |
|
2 |
Ai Cập |
97,3 |
Hàng hải sản, cà phê, hạt tiêu, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, than đá, hàng rau quả, vải, sợi các loại… |
|
3 |
Gha-na |
53,3 |
Gạo, sản phẩm dệt may, điện thoại di động, linh kiện phụ tùng xe máy… |
|
4 |
Cốt-đi-voa |
50,0 |
Gạo, sắt thép các loại.. |
|
5 |
Ăng-gô-la |
49,4 |
Gạo, sản phẩm dệt may.. |
|
6 |
An-giê-ri |
40,5 |
Cà phê, hạt tiêu, gạo, hàng hải sản,… |
|
7 |
Ni-giê-ri-a |
32,9 |
Hàng dệt may, tân dược, săm lốp ô tô, xe máy, phụ tùng xe máy, hàng hải sản… |
|
8 |
Ma-rốc |
27,1 |
Cà phê, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, đĩa CD-R… |
|
9 |
Công-gô |
22,6 |
Gạo, sản phẩm dệt may.. |
|
10 |
Tan-da-ni-a |
18,3 |
Gạo, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, cà phê… |
Nguồn: Tổng Cục hải quan
Từ năm 2000, Nam Phi trở thành thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam tại Châu Phi với giá trị xuất khẩu năm 2007 đạt 119,5 triệu USD chiếm 17% tổng xuất khẩu của Việt Nam vào khu vực Châu Phi.
Tiếp sau Nam Phi là Ai Cập, Ghana, Cốt-đi-voa, Ăng-gô-la với các con số xuất khẩu lần lượt là 97,3 triệu USD (chiếm 14%); 53,3 triệu USD (chiếm 8%), 50 triệu USD (7%), 49,4 triệu USD (7%).
Ngoài ra, Ma-rốc, Congo, Ni-giê-ri-a, Tan-da-ni-a cũng là những thị trường quan trọng của Việt Nam ở châu Phi.
Đây cũng là các nước nhập khẩu chính của Châu Phi. Thực tế là, xuất khẩu của Việt Nam vào các nước Châu Phi hiện cũng tập trung chủ yếu ở các nước này. Riêng kim ngạch xuất khẩu vào 10 thị trường lớn nhất đã đạt khoảng 511 triệu USD, chiếm tới 74% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Châu Phi.
Các nước khác nhập khẩu từ Việt Nam còn rất hạn chế, 43 nước còn lại chỉ nhập khẩu khoảng 172,6 triệu USD, chiếm 26% giá trị xuất khẩu của Việt Nam vào Châu Phi.
Trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục khai thác các thị trường mà ta đang có lợi thế xuất khẩu (xuất khẩu của Việt Nam vào các thị trường này cao so với các nước châu khác nhưng giá trị vẫn còn khiêm tốn) bên cạnh đó Việt Nam cũng cần tăng cường tìm hiểu, đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường mà hiện kim ngạch hai bên còn thấp nhưng tiềm năng lớn như: Xu-đăng, Xê-nê-gan, Mô-dăm-bích, Libi, Ma-đa-gát-xca…
3. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Bảng: Kim ngạch 10 mặt hàng xuất khẩu lớn nhất sang Châu Phi năm 2007
Đơn vị: triệu USD
|
TT |
Mặt hàng |
Kim ngạch |
Tỷ trọng (%) |
Thị trường chính |
|
1 |
Gạo |
201,3 |
30 |
Cốt-đi-voa (45,6), Ghana (39,7), Ăng-gô-la (36,2), Congo (16,1), Tan-da-ni-a (15,6), Nam Phi (15,2), Mô-dăm-bích (9,3), Ca-mơ-run (7,5).. |
|
2 |
Sản phẩm dệt may |
93,2 |
14 |
Nam Phi (13,0), Ethiopia (9,8), Ăng-gô-la (7,8), Ni-giê-ri-a (6,2) Benin (5,9), Ma-đa-gát-xca (5,9), Mali (5,1)… |
|
3 |
Cà phê |
78,2 |
11 |
An-giê-ri (29,6), Ai Cập (16,5), Ma-rốc (14,0), Nam Phi (12,3), Tuy-ni-di (3,2) |
|
4 |
Giày dép các loại |
43,5 |
6 |
Nam Phi (37,9), Xu-đăng (2,6) |
|
5 |
Máy vi tính, sản phẩm điện tử |
33,7 |
5 |
Ai Cập (10,6), Ni-giê-ri-a (6,7), Ma-rốc (5,6), Nam Phi (4,2) |
|
6 |
Hải sản |
30,0 |
4 |
Ai Cập (20,5), Ni-giê-ri-a (1,6) |
|
7 |
Hạt tiêu |
29,4 |
4 |
Ai Cập (16,2), An-giê-ri (3,2), Nam Phi (3,0) |
|
8 |
Thuốc lá và nguyên phụ liệu |
12,6 |
2 |
Nam Phi (4,5), Sierra Leon (3,1) |
|
9 |
Than đá |
11,2 |
2 |
Ai Cập (9,0), Nam Phi (2,2) |
|
10 |
Sản phẩm chất dẻo |
8,1 |
1 |
Gambia (2,0) |
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Nhìn vào tỷ trọng của 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2007, ta có thể thấy gạo hiện vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào Châu Phi (chiếm 30% kim ngạch xuất khẩu), trong khoảng 5 năm tới thì gạo vẫn sẽ là mặt hàng xuất khẩu số một của ta do nhu cầu của Châu Phi về gạo cao trong khi nguồn cung hạn chế. Mỗi năm Châu Phi phải nhập khẩu hơn 1 tỷ USD mặt hàng gạo như vậy giá trị gạo xuất khẩu của Việt Nam chiếm xấp xỉ 1/5 lượng gạo nhập khẩu của Châu Phi.
Mặt hàng xuất khẩu quan trọng thứ hai của Việt Nam ở Châu Phi là dệt may, năm 2007, Việt Nam xuất khẩu khoảng 93 triệu USD hàng dệt may, chiếm 14% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Châu Phi. Hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu chủ yếu sang các nước Nam Phi, Ăng-gô-la, Ni-giê-ri-a, E-thi-ô-pi-a, Bê-nanh, Ma-đa-gát-xca… Trong khi đó, các nước nhập khẩu mặt hàng này lớn ở Châu Phi như Ma-rốc, Tuy-ni-di, Ai Cập thì ta xuất còn khiêm tốn. Riêng 4 nước Nam Phi, Ma-rốc, Tuy-ni-di, Ai Cập năm 2006 nhập khẩu 7,6 tỷ USD chiếm 50% nhập khẩu mặt hàng này của Châu Phi. Trong thời gian tới, các doanh nghiệp Việt Nam nên lưu ý khai thác các thị trường giàu tiềm năng này.
Sau hàng dệt may là cà phê, cà phê Việt Nam xuất chủ yếu sang các nước Bắc Phi như: An-giê-ri, Ma-rốc, Ai Cập, Tuy-ni-di… Cần lưu ý rằng cà phê cũng là mặt hàng xuất khẩu lớn của Châu Phi.
Các mặt hàng xuất khẩu truyền thống khác vào Châu Phi là giày dép, hạt tiêu, cao su… Những năm gần đây, ta đã xuất khẩu thêm các sản phẩm điện-điện tử, cơ khí, đồ nhựa, sản phẩm gỗ, xe máy và linh kiện, phụ tùng xe máy, thuốc lá điếu, hàng rau quả, bột gia vị, bột ngọt, đồ chơi trẻ em, mỳ ăn liền, sữa và sản phẩm sữa, xe đạp… tuy nhiên giá trị xuất khẩu chưa cao.
Nhìn chung các mặt hàng xuất khẩu của nước ta hiện nay đang chịu sự cạnh tranh quyết liệt từ phía các nước trong khu vực như Thái Lan, Malayxia, Ấn Độ và nhất là Trung Quốc. Một số thăm dò của các doanh nghiệp cho thấy hàng Trung Quốc nhiều khi rẻ hơn ta từ 1,5 - 2 lần, rất phù hợp với sức mua của người tiêu dùng bình dân ở Châu Phi.
Nhìn vào cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang Châu Phi có thể thấy diện mặt hàng xuất khẩu còn hẹp và đơn điệu, tập trung vào một số mặt hàng như nông sản, giày dép, dệt may...
Trong khi đó, tại các nước Châu Phi, hàng hoá rất thiếu thốn. Thực tế ta chưa khai thác hết các mặt hàng Châu Phi có nhu cầu lớn như đồ điện, điện tử, đồ gia dụng, hàng tiêu dùng, thực phẩm, thực phẩm chế biến, đồ hộp, sản phẩm cơ khí nông nghiệp, sản phẩm nhựa, xe máy, xe đạp và phụ tùng, đồ chơi trẻ em, dược phẩm, thuốc chống sốt rét, màn chống muỗi... Đây là những mặt hàng ta có thế mạnh và hoàn toàn có khả năng xuất khẩu sang Châu Phi.
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận một thực tế là nhiều nước Châu Phi đánh thuế rất cao thậm chí là cấm các mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh nhập khẩu, ví dụ như Ni-giê-ri-a đánh thuế rất cao đối với gạo nhập khẩu.
(BCT)
Nguồn:Vinanet