Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải Quan, tháng 6/2010 lượng chè xuất khẩu của Việt Nam đạt 11.299 tấn với kim ngạch gần 17,81 triệu tấn chiếm 0,25% tổng trị giá xuất khẩu của các mặt hàng trong tháng, tăng 35,33% về lượng, 54,96% về trị giá so với tháng trước. Nâng tổng lượng chè xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm lên 55.031 tấn, với kim ngạch là gần 77,37 triệu USD, chỉ chiếm 0,2% tổng trị giá nhập khẩu hàng hoá, tăng 6,35% về lượng và 21,24% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Nga vẫn duy trì là nước đứng đầu về kim ngạch nhập khẩu chè của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2010, với 9.139 tấn đạt gần 12,47 triệu USD, chiếm 16,61% về lượng và 16,12 tổng trị giá xuất khẩu của mặt hàng này, tăng nhẹ 4,45% về lượng và 19,98% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Pakixtan đã vươn lên vị trí thứ hai từ vị trí thứ ba của 5 tháng trước, đã nhập 7.588 tấn chè với kim ngạch 12,37 triệu USD, chiếm 13,79% về lượng, 15,99% về trị giá nhập khẩu chè, giảm 41,74% về lượng và 31,8% về trị giá so với 6 tháng năm 2009. Đài Loan tụt xuống vị trí thứ ba về kim ngạch nhập khẩu chè, nhưng lại đứng đầu về lượng nhập khẩu, với 9.268 tấn đạt 10,88 triệu USD, chiếm 16,84% về lượng và 14,07% về trị giá xuất khẩu chè của Việt Nam, tăng 13,84% về lượng và 11,08% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Trong 6 tháng đầu năm 2010 có một số thị trường có độ tăng mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm trước như: Tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất tăng 487,15% về lượng, 615,32% về trị giá; Ả Rập Xê Út tăng 398,35% về lượng, 380,12% về trị giá; Philippine tăng 320,45% về lượng, 255,34% về trị giá; Ba Lan tăng 133,27% về lượng, 151,82% về trị giá. Có hai thị trường giảm cả về lượng và trị giá là Pakixtan và Ấn Độl
Tính riêng trong tháng 6/2010, Pakixtan là thị trường dẫn đầu cả về lượng và trị giá nhập khẩu với 2.507 tấn chè, đạt gần 4,59 triệu USD, tăng 114,09% về lượng, 143,63% về trị giá so với tháng 5/2010. Đứng thứ hai là Đài Loan với lượng chè nhập khẩu 2.390 tấn, đạt 2,94 triệu USD, tăng 31,54% về lượng, 42,53% về trị giá so với tháng trước. Đứng thứ ba là thị trường Nga với 1.556 tấn chè nhập khẩu từ Việt Nam, đạt kim ngạch gần 2,28 triệu USD, tăng 45,56% về lượng, 51,50% về trị giá so với tháng trước.
Bảng thống kê lượng và trị giá xuất khẩu chè của Việt Nam tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2010.
|
Thị trường
|
T6/2010
|
6T/2010
|
% tăng giảm T6/2010 so với T5/2010
|
% tăng giảm 6T/2010 so với 6T/2009
|
|
Lượng (tấn)
|
Trị giá (USD)
|
Lượng (tấn)
|
Trị giá (USD)
|
Lượng
|
Trị giá
|
Lượng
|
Trị giá
|
|
Tổng trị giá
|
11.299
|
17.805.616
|
55.031
|
77.365.053
|
+35,33
|
+54,96
|
+6,35
|
+21,24
|
|
Nga
|
1.556
|
2.275.148
|
9.139
|
12.469.546
|
+45,56
|
+51,50
|
+4,45
|
+19,98
|
|
Pakixtan
|
2.507
|
4.587.970
|
7.588
|
12.368.200
|
114,09
|
143,63
|
-41,74
|
-31,80
|
|
Đài Loan
|
2.390
|
2.938.048
|
9.268
|
10.883.489
|
+31,54
|
+42,53
|
+13,84
|
+11,08
|
|
Trung Quốc
|
1.258
|
1.918.674
|
4.549
|
5.969.950
|
+24,80
|
+59,68
|
+39,63
|
+71,27
|
|
Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất
|
157
|
267.130
|
1.462
|
2.723.859
|
|
|
487,15
|
615,32
|
|
Hoa Kỳ
|
472
|
503.569
|
2.545
|
2.704.937
|
263,08
|
250,55
|
+21,36
|
+41,23
|
|
Indonesia
|
120
|
172.328
|
2.415
|
2.530.910
|
-76,61
|
-67,81
|
+18,15
|
+60,09
|
|
Ấn Độ
|
18
|
25.578
|
2.056
|
2.496.617
|
-81,25
|
-82,38
|
-25,10
|
-12,57
|
|
Đức
|
175
|
266.459
|
1.635
|
2.237.091
|
-27,69
|
-1,00
|
87,29
|
102,14
|
|
Ba Lan
|
44
|
70.330
|
1.311
|
1.578.997
|
-34,33
|
10,80
|
133,27
|
151,82
|
|
Philippine
|
66
|
164.998
|
555
|
1.457.482
|
|
|
320,45
|
255,34
|
|
Ả Rập Xê Út
|
206
|
402.022
|
603
|
1.210.283
|
329,17
|
312,23
|
398,35
|
380,12
|