menu search
Đóng menu
Đóng

Xúc tiến thương mại Việt Nam – Thái Lan ngày càng phát triển

16:41 16/08/2010

Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Thái Lan 2 quý đầu năm 2010 đạt 584,5 triệu USD, chiếm 1,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tăng 3,85% so với 2 quý đầu năm 2009.
   
   
 


Quan hệ thương mại song phương Việt Nam-Thái Lan trong thời gian qua đã có sự tăng trưởng mạnh, nhất là 10 năm trở lại đây. Trong 6 tháng đầu năm 2010, dù còn không ít khó khăn, song thương mại hai chiều vẫn tăng, trong đó xuất khẩu từ Việt Nam sang Thái Lan tăng 4%, nhập khẩu vào Việt Nam từ Thái Lan tăng 43%. Năm 2009, kim ngạch song phương giữa hai nước đã đạt 6,1 tỷ USD, hai nước đặt mục tiêu trao đổi thương mại sẽ đạt 10 tỷ USD trong những năm tới.

Cả hai quốc gia đều mạnh về xuất khẩu thủy sản, trái cây và lương thực, thực phẩm, song cả Việt Nam và Thái Lan đều chưa tận dụng hất lợi thế của nhau để gia tăng kim ngạch thương mại song phương. Đơn cử như Việt Nam vốn đứng đầu khu vực ASEAN về XK thủy sản và nhu cầu của Thái Lan về nhóm hàng này cũng khá lớn nhưng kim ngạch XK thủy sản của Việt Nam sang Thái Lan hiện nay còn hạn chế. Những mặt hàng thủy sản của Việt Nam có chất lượng tốt, nhưng những người dân Thái Lan ở khu vực Đông Bắc, xa vời cảng Bangkok phải tiêu dùng thủy sản của Bangladesh. Sở dĩ thủy sản của Việt Nam không xâm nhập được vào Đông Bắc Thái Lan là do cước phí vận chuyển cao và tiêu cực phí cũng nhiều khiến giá thủy sản của Việt Nam luôn đắt hơn nhiều so với các sản phẩm cùng loại của Bangladesh. Mặc dù cạnh tranh là điều tất yếu, nhưng giải pháp để hàng thủy sản Việt Nam thâm nhập sâu rộng hơn vào thị trường Thái Lan là giải pháp hạ giá cước vận chuyển để hai nước cùng được hưởng lợi vì tiềm năng tăng XK mặt hàng này của Việt Nam sang Thái Lan rất lớn.

Trong xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa, các nước ASEAN sản xuất nhiều mặt hàng trùng lặp, nhưng vấn đề quyết định chính là chất lượng và giá cả. Vì vậy, vẫn có nhiều cơ hội cho hàng Việt Nam tại thị trường Thái Lan vì nhiều mặt hàng của Thái Lan hiện có giá thành cao hơn các sản phẩm cùng loại của Việt Nam. Thực tế có nhiều mặt hàng Thái Lan cũng sản xuất nhưng không thể cạnh tranh được nên đã nhập khẩu hàng của Việt Nam. Như hàng cà phê của Việt Nam – chất lượng vừa tốt mà giá lại rẻ hơn, hay những mặt hàng thực phẩm đóng hộp của Việt Nam cũng rất phù hợp với khẩu vị của người Thái Lan (hai nước đã có AFT miễn thuế những mặt hàng này), điển hình là mặt hàng cá hộp bán trên thị trường Thái Lan hiện nay có tới 50% là nhập từ Việt Nam. Bên cạnh mặt hàng thạch đen của Việt Nam đã chiếm được cảm tình của đông đảo người tiêu dùng Thái Lan thì Thái Lan cũng đang rất cần nhập khẩu nhiều mặt hàng khác của Việt Nam như nông sản, vải lụa, các loại hải sản chế biến….

Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Thái Lan 2 quý đầu năm 2010 đạt 584,5 triệu USD, chiếm 1,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tăng 3,85% so với 2 quý đầu năm 2009.

Hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Thái Lan trong 2 quý đầu năm nhìn chung đều tăng trưởng dương, chỉ có một số mặt hàng có kim ngạch giảm. Đáng chú ý mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng đạt kim ngạch cao trong 2 quý đầu năm, đạt 97,7 triệu USD, chiếm 16,72% trong tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này, giảm 23,05% so với cùng kỳ năm 2009.

Ngoài mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm còn có các mặt hàng khác giảm như: dầu thô giảm 81,11% về lượng và giảm 71,12% về trị giá so với cùng kỳ năm 2009 đạt 86,4 nghìn tấn với trị giá 52,3 triệu USD; hàng thủy sản giảm 4,26% so với cùng kỳ; hàng dệt may giảm 6,88%; than đá giảm 33,10% về lượng và 23,87% về trị giá so với cùng kỳ đạt 213, 5 nghìn tấn, trị giá 19,3 triệu USD; giày dép các loại giảm 22,65%; túi xách, vi, vali mũ và ô dù giảm 23,59% đạt 1,1 triệu USD và hóa chất giảm 76,64% so với cùng kỳ đạt 230,6 nghìn USD.

Thống kê hàng hóa xuất khẩu sang Thái Lan 6 tháng năm 2010

Chủng loại mặt hàng
 
6T/2010
 
6T/2009
 
6T/2010 so với 6T/2009 (%)
Lượng (tấn)
Trị giá (USD)
Lượng (tấn)
Trị giá (USD)
Lượng
 
Tấn
 
Tổng kim ngạch
 
584.563.118
 
562.884.204
 
+3,85
máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
 
97.739.145
 
127.023.245
 
-23,05
máy móc, thiết bị dụng cụ phụ tùng khác
 
58.126.181
 
26.188.370
 
+121,95
dầu thô
86.408
52.303.598
457.419
181.104.068
-81,11
-71,12
Hàng thủy sản
 
28.960.130
 
30.248.208
 
-4,26
phương tiện vận tải và phụ tùng
 
21.263.718
 
8.118.898
 
+161,90
than đá
213.560
19.347.176
319.212
25.414.098
-33,10
-23,87
sắt thép các loại
18.065
18.821.980
10.805
8.178.384
+67,19
+130,14
sản phẩm hóa chất
 
11.809.554
 
7.949.509
 
+48,56
hạt điều
1.761
10.303.642
989
4.354.949
+78,06
+136,60
sản phẩm từ chất dẻo
 
9.011.724
 
3.948.647
 
+128,22
hàng dệt, may
 
8.763.397
 
9.411.078
 
-6,88
dây điện và dây cáp điện
 
6.919.704
 
3.581.180
 
+93,22
sản phẩm gốm, sứ
 
5.646.118
 
3.237.720
 
+74,39
chất dẻo nguyên liệu
2.971
5.082.581
2.738
4.465.612
+8,51
+13,82
bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc
 
4.938.981
 
4.442.810
 
+11,17
sản phẩm từ sắt thép
 
4.845.807
 
4.695.141
 
+3,21
hàng rau quả
 
4.770.354
 
4.341.719
 
+9,87
gỗ và sản phẩm gỗ
 
3.951.939
 
1.149.715
 
+243,73
cà phê
2.536
3.526.289
1.760
2.648.365
+44,09
+33,15
giày dép các loại
 
3.174.448
 
4.104.185
 
-22,65
giấy và các sản phẩm từ giấy
 
2.833.157
 
2.156.182
 
+31,40
sản phẩm từ cao su
 
2.648.315
 
835.770
 
+216,87
xăng dầu các loại
3.424
2.000.379
2.688
1.017.163
+27,38
+96,66
đá quý, kim loại quý và sản phẩm
 
1.649.813
 
1.348.106
 
+22,38
túi xách, ví, vali, mũ và ô dù
 
1.198.203
 
1.568.035
 
-23,59
hóa chất
 
230.649
 
987.548
 
-76,64
 
(Lan Hương)

Nguồn:Vinanet