Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất và phân phối điện tăng 14,1%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,6%; ngành khai khoáng tăng 10,3%.
Tốc độ tăng trưởng chỉ số sản xuất tháng 1/2026 cũng ghi nhận ở một số ngành trọng điểm cấp II so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 41,9%; sản xuất xe có động cơ tăng 36,6%; sản xuất kim loại tăng 35,4%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 35,2%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 31,9%; sản xuất đồ uống tăng 26,1%.
Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 25,8%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 25,6%; sản xuất trang phục tăng 25,3%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa.... tăng 21,7%; sản xuất thiết bị điện tăng 21,1%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 20,9%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 17,7%.
Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 9,3%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 6,2%.
Cùng với đó, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 1/2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao.
Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.
Sản phẩm công nghiệp chủ lực tăng cao
Báo cáo của Tổng cục Thống kê cũng chỉ rõ, một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong tháng 1/2026 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Linh kiện điện thoại tăng 92,7%; xe máy tăng 54,3%; xi măng tăng 48,9%; ô tô tăng 48,5%; thép cán tăng 38,0%; thủy hải sản chế biến tăng 30,7%; sữa bột và sơn hóa học cùng tăng 29,1%.
Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Phân Ure giảm 40,0%; điện thoại di động giảm 6,1%.
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/1/2026 tăng 0,8% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 4,3% so với cùng thời điểm năm trước.
Trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,1% và giảm 0,9%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,6% và giảm 0,2%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,0% và tăng 6,0%.
Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 0,2% so với thời điểm tháng trước và tăng 1,1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 0,9% và tăng 4,5%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,1% và tăng 1,9%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,1% và tăng 1,6%.
Nguồn:congthuong.vn