VINANET-Theo số liệu thống kê TCHQ, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm mây, tre, cói thảm tháng 9/2011 đạt 15,2 triệu USD, giảm 9,15% so với tháng 8 và giảm 5,75% so với tháng 9/2010. Tính chung 3 quý năm 2011, xuất khẩu mặt hàng này đạt 151,4 triệu USD, giảm 5,01% so với cùng kỳ năm 2010.
Nhìn chung, xuất khẩu mây, tre, cói thảm từ đầu năm đến hết tháng 9 đều giảm kim ngạch ở hầu khắp các thị trường.
Nguyên nhân của sự giảm sút này, theo các doanh nghiệp trong ngành xuất khẩu thủ công mỹ nghệ do giá thành tăng cao, sức cạnh tranh của mặt hàng này trên thị trường xuất khẩu cũng giảm mạnh. Hiện giá thành để doanh nghiệp làm ra một sản phẩm đã tăng hơn 20% so với cùng kỳ. Giá thành tăng do giá nguyên liệu, giá vận chuyển, giá nhân công đều tăng. Kinh tế toàn cầu suy thoái, những mặt hàng thủ công mỹ nghệ trang trí không phải là mặt hàng thiết yếu trong danh mục tiêu dùng của người dân cũng là nguyên nhân làm số lượng xuất khẩu của mặt hàng này giảm từ đầu năm đến nay.
Hoa kỳ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Ôxtraylia… là những thị trường chính nhập khẩu hàng mây , tre, cói thảm của Việt Nam.
Hoa kỳ - thị trường chính, chiếm 15,8% tỷ trọng, đạt kim ngạch cao nhất trong 3 quý đầu năm 22,7 triệu USD, giẩm 4,98% so với cùng kỳ, tính riêng tháng 9 xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường Hoa Kỳ đạt 2,38 triệu USD, giảm 15,44% so với tháng 8 và giảm 17,74% so với tháng 9/2010.
Tuy đứng thứ hai về kim ngạch, 2,36 triệu USD trong tháng 9, nhưng xuất khẩu mây, tre, cói thảm sang Nhật Bản trong tháng 9 lại tăng so với tháng liền kề trước đó, tăng 4,76% và tăng 2,37% so với tháng 9/2010. Tuy nhiên, nếu tính 3 quý đầu năm 2011, thì xuất khẩu mây, tre, cói thảm sang thị trường này lại giảm 13,82% so với cùng kỳ năm trước, tương đương với 20,2 triệu USD.
Nhật Bản là thị trường tiêu thụ hàng mây, tre, cói và thảm lớn của Việt Nam, chiếm trên khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của cả nước.
Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang Nhật đạt gần 29 triệu USD, tăng 10% so với năm 2009. Tính đến hết tháng 4 năm 2011, kim ngạch mặt hàng này của Việt Nam đạt 64,67 triệu USD, riêng thị trường Nhật thì đạt 9,41 triệu USD, giảm nhẹ 10% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng tháng 4, kim ngạch giảm 8% (đạt 2,9 triệu USD).
Với nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước, nguyên liệu nhập khẩu chỉ chiếm từ 3-5% giá trị xuất khẩu thì tiềm năng xuất khẩu mặt hàng này là rất lớn. Song do khả năng tiếp cận thị trường của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế, thiếu thông tin về thị trường, về sản phẩm, cùng với nhu cầu tiêu thụ của Nhật Bản thì đang có xu hướng giảm, thị yếu thay đổi (chuyển sang sản phẩm gỗ, nhựa), … cũng sẽ khiến khả năng xuất khẩu mặt hàng này còn nhiều hạn chế. Thêm vào đó, các sản phẩm này còn đang chịu sức cạnh tranh lớn từ các nước trong khu vực ASEAN với đặc thù và khả năng sản xuất tương đồng với Việt Nam.
Để đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này vào thị trường Nhật Bản, doanh nghiệp Việt Nam cần nghiên cứu thị trường về: phong tục tập quán, tiêu dùng, sở thích, mức độ chi trả, hệ thống phân phối cũng như quy chế nhập khẩu mặt hàng này. Ngoài ra, doanh nghiệp cần nghiên cứu những hội chợ triển lãm về mặt hàng này để trực tiếp giới thiệu, quảng bá đến tay người tiêu dùng và những đối tác liên quan.
Ngoài hai thị trường chính kể trên, Việt Nam còn xuất khẩu mây, tre, cói thảm sang các thị trường khác nữa như: Đài Loan, Anh, Ba Lan, Hà Lan, Italia, Hàn Quốc, Nga….
Thị trường xuất khẩu sản phẩm mây, tre, cói thảm quí 3/2011
ĐVT: USD
|
|
|
|
|
% tăng giảm KN so T8/2011
|
% tăng giảm KN so T9/2010
|
% tăng giảm KN so cùng kỳ
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Nguồn:Vinanet