Đối với người nghèo, vùng sâu vùng xa, dân tộc thiểu số
Mở rộng diện hỗ trợ và cấp không thu tiền 5 lít dầu/hộ/năm cho các hộ dân ở những nơi chưa có điện lưới trên cả nước.
Hỗ trợ tiền điện tương đương với 5 lít dầu/hộ/năm cho đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào thuộc diện chính sách (ở những nơi có điện lưới).
Tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ cho vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số như trợ cước vận chuyển các mặt hàng chính sách…
Thực hiện cấp học bổng theo mức 1/3 lương tối thiểu (tăng theo lương) cho học sinh dân tộc các trường nội trú; hỗ trợ học sinh mẫu giáo và học sinh phổ thông học bán trú con hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn và thôn bản đặc biệt khó khăn ở khu vực II: theo mức 70.000 đ/tháng/học sinh mẫu giáo và 140.000 đ/tháng/học sinh phổ thông học bán trú.
Năm 2008 nâng mức hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho người nghèo (từ 80.000 đ/người/năm), trẻ em dưới 6 tuổi (từ 108.000 đ/người/năm) lên 130.000 đ/người/năm; hỗ trợ người cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện với mức bằng 50% mệnh giá thẻ bảo hiểm y tế tự nguyện, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân. Mức hỗ trợ nêu trên sẽ tiếp tục được xem xét nâng lên khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương tối thiểu.
Đối với ngư dân:
Hỗ trợ về dầu
Nhà nước sẽ hỗ trợ ngư dân có tiến hành hoạt động khai thác hải sản thường xuyên liên tục, nguồn thu từ đánh bắt hải sản là nguồn thu nhập chính chịu ảnh hưởng do điều chỉnh giá dầu.
Mức hỗ trợ: hỗ trợ trực tiếp cho ngư dân (cấp tiền) một phần chi phí tăng thêm về giá dầu cho chuyến đi biển của ngư dân để bù đắp một phần chi phí khai thác hải sản.
Hỗ trợ kinh phí mua bảo hiểm cho tàu cá và thuyền viên.
Hỗ trợ 1/3 (33%) phí bảo hiểm thân tàu phải nộp hàng năm cho các tàu đánh cá có hoạt động khai thác hải sản xa bờ hoặc tàu dịch vụ cho tàu khai thác hải sản xa bờ.
Hỗ trợ 100% phí bảo hiểm tai nạn thuyền viên cho tất cả ngư dân là thuyền viên tham gia hoạt động trên các tàu đánh cá có hoạt động khai thác hải sản hoặc tàu dịch vụ cho tàu khai thác hải sản.
Hỗ trợ để thay máy tàu từ loại máy tiêu hao nhiều nhiên liệu sang loại tiêu hao ít nhiên liệu.
Đối tượng hỗ trợ: các ngư dân là chủ sở hữu của những chiếc tàu đánh bắt cá có công suất máy từ 40 CV trở lên hoặc tàu dịch vụ cho tàu khai thác hải sản xa bờ thực hiện thay máy cũ, lắp máy mới có mức tiêu hao nhiên liệu ít hơn.
Mức hỗ trợ: hỗ trợ bằng tiền trực tiếp cho ngư dân tương ứng với một phần lãi suất (30% lãi suất vay ngân hàng) để đầu tư thay máy tàu. Thời gian hỗ trợ: 3 năm.
Hỗ trợ để mua, đóng mới tàu có công suất lớn đánh bắt hải sản hoặc tàu dịch vụ phục vụ hoạt động khai thác hải sản trên biển.
Đối tượng: ngư dân khi mua, đóng mới tàu có công suất máy từ 90 CV trở lên để thay thế các loại tàu công suất nhỏ hiện có, mua, đóng mới tàu để làm dịch vụ cho tàu khai thác hải sản xa bờ.
Mức hỗ trợ: hỗ trợ bằng tiền trực tiếp cho ngư dân tương ứng với một phần lãi suất (30% lãi suất vay ngân hàng) để đầu tư đóng mới, mua mới tàu cá, tàu dịch vụ. Thời gian hỗ trợ: 3 năm.
Tiếp tục tăng mức đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho phát triển hạ tầng nghề cá như: đầu tư cảng cá, tàu thuyền cung cấp dịch vụ nghề cá, xây dựng khu neo đậu, tránh bão, hệ thống thông tin phục vụ công tác phòng, chống thiên tai trên biển, bao gồm cả máy thu trực canh (SSB).
Các chính sách hỗ trợ khác
Song song với chính sách nêu trên, Chính phủ cũng sẽ tiếp tục thực hiện một số chính sách hỗ trợ khác để góp phần ổn định đời sống, giảm thiểu tác động của việc tăng giá đến đời sống của nhân dân. Cụ thể:
Tiếp tục thực hiện miễn giảm thuế nông nghiệp cho nông dân, triển khai miễn giảm thuỷ lợi phí cho nông dân, miễn các loại thuế tài nguyên, thuế môn bài, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp… cho ngư dân.
Rà soát bãi bỏ hoặc giảm một số khoản phí, lệ phí. Các địa phương tiếp tục rà soát giảm các khoản đóng góp của dân để thực hiện theo nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, không giao chỉ tiêu, không quy định mức đóng góp cụ thể đối với người dân.
Tiếp tục mở rộng cho vay ưu đãi thông qua Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng phát triển Việt Nam để phát triển sản xuất và đầu tư cơ sở hạ tầng, tiếp tục thực hiện chính sách cho vay để phát triển sản xuất, tạo việc làm đối với các hộ nghèo, tiếp tục thực hiện cho học sinh, sinh viên nghèo vay vốn để học tập…
Thực hiện hỗ trợ cho người dân ở khu vực Tây nguyên chuyển đổi phương tiện phục vụ sản xuất (thay thế xe công nông).
Tiếp tục tăng mức đầu tư cho hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, hỗ trợ cho nông dân thông qua các chương trình, dự án của nhà nước, cụ thể:
Chương trình 134 về nhà ở, đất ở, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc (từ năm 2008 điều chỉnh mức hỗ trợ từ NSNN về làm nhà ở từ 5 triệu đồng/hộ lên 6 triệu đồng/hộ, tăng mức hỗ trợ đầu tư nước sinh hoạt phân tán cho các hộ dân từ 300.000 đ/hộ lên 400.000 đ/hộ, hỗ trợ vốn đối ứng cho các địa phương khó khăn (379 tỉ đồng) để có điều kiện triển khai chương trình được thuận lợi và cơ bản hoàn thành trong năm 2008).
Chương trình 135 về đầu tư phát triển kinh tế xã hội cho các xã đặc biệt khó khăn (từ năm 2008 nâng mức đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã đặc biệt khó khăn từ 700 triệu đồng/xã lên 800 triệu đồng/xã; đầu từ cho thôn, bản đặc biệt khó khăn với mức là 194 triệu đồng/thôn, bản).
Năm 2008, phát hành trái phiếu Chính phủ để thực hiện chương trình kiên cố hoá trường, lớp học (khoảng 5.000 tỉ đồng) đầu tư cho các cơ sở y tế tuyến huyện (4.000 tỉ đồng). Tiếp tục đầu tư các công trình giao thông, thuỷ lợi quan trọng, di dân tái định cư các công trình thuỷ điện … 28.000 tỉ đồng.
Nguồn:Vinanet