(VINANET) – Giá dầu thô giảm trong phiên giao dịch 8/7 (kết thúc vào rạng sáng 9/7 giờ VN) do giới đầu tư lo ngại về tình hình tăng trưởng kinh tế chậm chạp. Dầu thô ngọt nhẹ trên thị trường New York kỳ hạn giao tháng 8 giá giảm 0,1% xuống 103,4 USD/thùng trên sàn Nymex, ghi nhận mức giá đóng phiên thấp nhất kể từ ngày 6/6. Giá dầu tại Mỹ đã giảm trong 7 phiên giao dịch liên tiếp và là đợt giảm dài nhất kể từ ngày 14/12/2009. Dầu Brent trên thị trường London cũng giảm 1,2% xuống 108,94 USD/thùng.
Tình hình tại Trung Đông cũng xoa dịu phần nào lo sợ gián đoạn nguồn cung dầu toàn cầu, kéo giá dầu giảm thấp hơn. Tại Libya, người phát ngôn Công ty Dầu khí quốc doanh cho biết, chính phủ Libya đã dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu tại 2 cảng xuất khẩu dầu, Es Sider và Ras Lanuf, sau khi giành lại quyền kiểm soát từ tay phiến quân. Tại Iraq, hoạt động sản xuất và xuất khẩu dầu tại miền nam vẫn chưa bị ảnh hưởng của căng thẳng chính trị.
Đầu tuần, Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ quốc tế Christine Lagarde nhận định, hoạt động đầu tư hiện nay vẫn yếu ớt trong khi kinh tế Mỹ vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro; đồng thời, đánh tín hiệu sẽ hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu trong báo cáo cập nhật triển vọng tới đây.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng cũng giảm phiên thứ 2 liên tiếp. Giá vàng giao tháng 8 giảm nhẹ 0,04% xuống 1.316,5 USD/ounce.
Thị trường hiện đang chờ biên bản cuộc họp chính sách tháng 6 của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) để phán đoán và đánh giá quan điểm của ngân hàng trung ương về lãi suất và tăng trưởng kinh tế.
Ngày 7/7, Ngân hàng Goldman Sachs cùng với JPMorgan và Ngân hàng Tokyo-Mitsubishi UFJ cùng dự đoán rằng, Fed sẽ tăng lãi suất sớm hơn vào quý III/2015 so với dự kiến (quý I/2016).
Quỹ đầu tư tín thác vàng lớn nhất thế giới SPDR mua vào hơn 2 tấn vàng trong ngày 8/7 sau khi đã tích trữ thêm 1,8 tấn trong ngày 7/7. Trước đó, chỉ trong 2 ngày 30/6 và 1/7, SPDR cũng đã mua vào hơn 10 tấn vàng.
Tính đến ngày 8/7, lượng vàng SPDR nắm giữ vào thời điểm hiện tại đã tăng lên 800,23 tấn, ghi nhận mức cao nhất kể từ ngày 16/4; đồng thời, nâng tổng tài sản của quỹ lên trên 34 tỷ USD, tăng khoảng 345 triệu USD so với phiên giao dịch trước. Như vậy khoảng nửa tháng trở lại đây, SPDR đã liên tục mua vàng bất chấp giá biến động thất thường.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê hồi phục. Trên sàn ICE tại NewYork, giá Arabica các kỳ hạn đồng loạt trở lại do lượng bán giới hạn và lượng mua tăng mạnh dù số liệu cho thấy xuất khẩu cà phê của Brazil trong tháng 6 tăng tới 24% so với cùng kỳ năm ngoái lên 2,6 triệu bao. Arabica kỳ hạn giao tháng 7 giá tăng 0,71% lên 170,2 US cent/lb, kỳ hạn giao tháng 9 giá tăng 1,08% lên 172,95 cent/lb.
Trên sàn Liffe tại London, giá cà phê Robusta các kỳ hạn có phiên phục hồi trở lại sau 2 phiên giảm liên tiếp. Kỳ hạn giao tháng 7 giá tăng 27 USD, tương đương 1,32% lên 2.065 USD/tấn. Giá giao tháng 9 tăng 25 USD, tương đương 1,23% lên 2.063 USD/tấn.
Giá Robusta giao tháng 9 phiên này tăng và trở lại mức trung bình 75 ngày và 100 ngày do lo ngại thời tiết không thuận lợi tại Việt Nam và xuất khẩu giảm tại Indonesia.
Chuyên gia Jack Scoville tại Price Futures cho rằng với thời tiết khô hơn bình thường, nhiều khả năng sản lượng vụ tới của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng.
Số liệu cũng cho thấy xuất khẩu từ khu vực đảo Sumatra của Indonesia đã giảm tới 41% trong tháng 6, theo báo cáo trong tuần trước của Agrimoney và Reuters, trùng với dự báo của chuyên gia phân tích Judith Ganes Chase một vài tháng trước đây và với báo cáo của Volcafe trên Bloomberg trong tuần trước.
Giá cà phê trong nước sáng nay tăng trở lại theo giá thế giới. Cà phê nhân Tây Nguyên đồng loạt tăng 400 nghìn đồng/tấn so với hôm qua lên 40,4-40,8 triệu đồng/tấn, bằng mức giảm của phiên trước.
Giá cà phê Robusta giao tại cảng TPHCM giá FOB tăng 25 USD lên 2.023 USD/tấn.
Giá hàng hóa thế giới
|
Hàng hóa
|
ĐVT
|
Giá 9/7
|
+/-
|
+/- (%)
|
|
Dầu thô WTI
|
USD/thùng
|
103,41
|
+0,01
|
+0,01%
|
|
Dầu Brent
|
USD/thùng
|
108,83
|
-0,11
|
-0,10%
|
|
Dầu thô TOCOM
|
JPY/kl
|
66.640,00
|
-650,00
|
-0,97%
|
|
Khí thiên nhiên
|
USD/mBtu
|
4,20
|
-0,00
|
-0,05%
|
|
Xăng RBOB FUT
|
US cent/gallon
|
296,60
|
-0,69
|
-0,23%
|
|
Dầu đốt
|
US cent/gallon
|
287,69
|
+0,33
|
+0,11%
|
|
Dầu khí
|
USD/tấn
|
887,75
|
-2,50
|
-0,28%
|
|
Dầu lửa TOCOM
|
JPY/kl
|
83.100,00
|
-800,00
|
-0,95%
|
|
Vàng New York
|
USD/ounce
|
1.321,90
|
+5,40
|
+0,41%
|
|
Vàng TOCOM
|
JPY/g
|
4.318,00
|
+1,00
|
+0,02%
|
|
Bạc New York
|
USD/ounce
|
21,12
|
+0,10
|
+0,49%
|
|
Bạc TOCOM
|
JPY/g
|
68,80
|
0,00
|
0,00%
|
|
Bạch kim giao ngay
|
USD/t oz.
|
1.502,38
|
+5,50
|
+0,37%
|
|
Palladium giao ngay
|
USD/t oz.
|
874,06
|
+1,20
|
+0,14%
|
|
Đồng New York
|
US cent/lb
|
325,50
|
-0,20
|
-0,06%
|
|
Đồng LME 3 tháng
|
USD/tấn
|
7.130,00
|
-10,25
|
-0,14%
|
|
Nhôm LME 3 tháng
|
USD/tấn
|
1.940,00
|
+16,00
|
+0,83%
|
|
Kẽm LME 3 tháng
|
USD/tấn
|
2.282,00
|
+19,00
|
+0,84%
|
|
Thiếc LME 3 tháng
|
USD/tấn
|
22.500,00
|
-175,00
|
-0,77%
|
|
Ngô
|
US cent/bushel
|
403,25
|
-1,00
|
-0,25%
|
|
Lúa mì CBOT
|
US cent/bushel
|
556,75
|
+0,50
|
+0,09%
|
|
Lúa mạch
|
US cent/bushel
|
339,75
|
-0,75
|
-0,22%
|
|
Gạo thô
|
USD/cwt
|
13,65
|
-0,05
|
-0,36%
|
|
Đậu tương
|
US cent/bushel
|
1.111,00
|
-5,25
|
-0,47%
|
|
Khô đậu tương
|
USD/tấn
|
355,60
|
-1,70
|
-0,48%
|
|
Dầu đậu tương
|
US cent/lb
|
37,84
|
-0,13
|
-0,34%
|
|
Hạt cải WCE
|
CAD/tấn
|
459,50
|
-3,10
|
-0,67%
|
|
Cacao Mỹ
|
USD/tấn
|
3.116,00
|
+17,00
|
+0,55%
|
|
Cà phê Mỹ
|
US cent/lb
|
172,95
|
+1,85
|
+1,08%
|
|
Đường thô
|
US cent/lb
|
17,68
|
+0,17
|
+0,97%
|
|
Nước cam cô đặc đông lạnh
|
US cent/lb
|
150,85
|
-0,10
|
-0,07%
|
|
Bông
|
US cent/lb
|
70,31
|
+0,21
|
+0,30%
|
|
Lông cừu (SFE)
|
US cent/kg
|
-
|
-
|
-%
|
|
Gỗ xẻ
|
USD/1000 board feet
|
332,70
|
+0,60
|
+0,18%
|
|
Cao su TOCOM
|
JPY/kg
|
201,20
|
-2,80
|
-1,37%
|
|
Ethanol CME
|
USD/gallon
|
2,14
|
-0,01
|
-0,23%
|
T.Hải
Nguồn: Vinanet/Reuters, Bloomberg