VINANET - Malaysia một trong những nhà xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) hàng đầu thế giới, đang thực hiện các kế hoạch nhập khẩu LNG để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng trong nước do nước này cố vật lộn thúc đẩy thông qua cải cách giá khí gas và ứng phó với sản lượng gas giảm của mình.
Quốc gia đông nam Châu Á này, nước xuất khẩu LNG lớn thứ ba thế giới sẽ bắt đầu nhập khẩu nhiên liệu siêu mát năm tới tại kho LNG Melaka, một hành động sẽ giúp bảo vệ số lượng lớn doanh thu nhận được từ xuất khẩu LNG.
Graham Tyler, một nhà phân tích của Wood Mackenzie nói “mục đích hiện tại là làm giá tăng đến mức bạn cần để thu hút khí gas mới đó là giá LNG”
Gần đây Petronas hướng đến một thỏa thuận nhập khẩu LNG với Qatar để mua 1,5 triệu tấn một năm từ năm 2013 và cũng có một hợp đồng cung cấp để mua 3,5 triệu tấn từ dự án LNG Gladstone của Australia trong đó Petronas chiếm 27,5 cổ phần.
Kho cảng nhập khẩu LNG đầu tiên của Malaysia, một kho cảng 3,8 triệu tấn một năm tại nhà nước trung ương của Melaka do đi vào hoạt động giữa năm 2012. Với việc chính phủ dự kiến không trợ cấp nhu cầu khí gas hơn 500 triệu mét khối một ngày đến năm 2020, Petronas dường như bật đèn xanh cho kho cảng nhập khẩu thứ hai tại phía bắc bang Johor vào cuối năm nay.
Malaysia cũng đang phải chuyển sang nhập khẩu do sản lượng giảm từ những mỏ dầu cũ và việc tăng nhu cầu từ các nhà máy điện làm giảm xuất khẩu mặc dù nước này đang tăng cường sản lượng từ những mỏ dầu trong nước và cổ phần trong các dự án với nước ngoài.
Nhu cầu LNG của Malaysia là một phần cao điểm của nhu cầu đông nam Á được thiết lập để sẵn sàng hoạt động trong 5 đếm 10 năm tới, kéo dài một thị trường đã thắt chặt.
Thái Lan được ủy quyền tái khí hóa LNG đầu tiên trong khu vực đầu năm nay, nhưng một vài nước khác gồm Malaysia, Indonesia, Singapore, Philippines và Việt Nam dự kiến sẽ làm theo.
Đến năm 2020, Đông nam Á sẽ có công suất nhập khẩu LNG gần 25 triệu tấn.
Ngắn hạn chịu thiệt
Hiện tại Malaysia xuất khẩu phần lớn LNG thông qua các hợp đồng cung cấp dài hạn tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, một nguồn lợi nhuận quan trọng cho chính phủ, sẽ là một sự thua lỗ nếu nước này bán LNG ra thị trường trong nước ở mức giá được trợ cấp.
Số liệu của chính phủ chỉ ra xuất khẩu LNG trong nửa đầu năm 2011 tăng 15,4% so với năm trước đạt mức 21,8 tỷ ringgit, chiếm gần 1/10 của tổng kim ngạch xuất khẩu.
Không có các hợp đồng nhập khẩu đang buộc Malaysia phải trả giá cùng với phần còn lại của thế giới, chính phủ của thủ tướng Najib Razak vẫn bị chia rẽ giữa việc cải tổ nền kinh tế để thu hút đầu tư và giảm bớt sự giận dữ của người dân về lạm phát cao.
Việc tăng giá khí đốt và điện gần đây nhất trong tháng 6 đã cho thấy lạm phát tăng lên mức cao trong gần 27 tháng và việc bỏ trợ giá sẽ là một vấn đề chính trị gây tranh luận trong tình hình cuộc bầu cử có thể sẽ được tổ chức vào cuối năm nay hoặc đầu năm tới.
“Thực thể chính trị có thể nhìn nhận sự chậm trễ nào đó hoặc một lượng tăng thuế nhỏ hơn”, một quan chức chính phủ cấp cao liên quan đến kế hoạch tăng thuế khí đốt và điện nói nhưng từ chối nêu tên do tính nhạy cảm của vấn đề.
“Chính phủ đang ở tình thế khó giải trong vấn đề này nhưng chúng tôi sẽ cần phải đối mặt với một số thực tế khó khăn và xoay sở bằng nhập khẩu LNG này. Ngắn hạn chịu thiệt cho phát triển kinh tế dài hạn”, quan chức này nói.
Nhu cầu đối với LNG từ hậu quả của trận động đất Nhật Bản đã đẩy giá nhiên liệu lên cao đột ngột trong những tháng gần đây lên trên 15 USD/mmBtu.
So với việc Petronas bán khí gas tự nhiên cho nhà máy điện trong nước ở mức giá 13,70 ringgit (4,60 USD) / mmBtu. Chính phủ đã bảo đảm cho phép giá khí đốt tự nhiên trong nước tăng 3 ringgit trong mỗi 6 tháng cho đến khi bằng mức giá thị trường với lần điều chỉnh giá tiếp theo vào cuối năm nay.
Thị trường dẫn dắt nhu cầu
Nếu được thực hiện, chiến lược của Malaysia giảm bớt gánh nặng thị trường khí đốt nội địa tiến đến mức giá thị trường bằng việc nhập khẩu LNG sẽ giúp Petronas tiết kiệm hàng tỷ bạc trợ cấp khí đốt trong nước.
Trợ cấp nhiên liệu và thực phẩm của chính phủ dự báo tăng gấp đôi lên khoảng 6,9 tỷ đô la trong năm nay, làm xói mòn nỗ lực của đất nước này nhằm giảm thâm hụt ngân sách tài chính xuống 5,4% GDP.
Petronas tự phải chi khoảng 20 tỷ ringgit trợ cấp khí đốt hàng năm. Trong một chỉ trích hiếm có, Petronas gần đây đã nói giá khí đốt được trợ cấp đã cản trở đầu tư vào các dự án thăm dò và khai thác khí khi đặt đường ống dẫn khí đốt từ lưu vực cảng bắc Malay.
Giá khí đốt thị trường cũng có thể sẽ kiềm chế nhu cầu nội địa.
“Thỏa thuận Qatar cho thấy Malaysia cuối cùng sẽ phải quen với việc trả theo giá thị trường đối với khí đốt và điện”, một quan chức của Petronas nói nhưng không nêu tên vì không phải là người phát ngôn ra giới truyền thông.
“Và điều này có nghĩa là nhu cầu sẽ bị thị trường dẫn dắt nhiều hơn là phụ thuộc vào các khoản trợ giá giả tạo”
Ông nói Petronas vẫn đang xác định xem Malaysia sẽ cần nhập khẩu bao nhiêu nhưng thực tế mà nói nhu cầu năng lượng của Malaysia sẽ tăng 5% mỗi năm.
Nhóm tư vấn của chính phủ, PEMANDU ước lượng nhu cầu đối với các nhà đầu tư nước ngoài không thể bắt đầu công việc kinh doanh do tình trạng thiếu khí đốt nhưng sẵn sàng trả theo giá thị trường có thể ở mức 270 triệu khối feet tiêu chuẩn mỗi ngày vào năm 2020.
Với các kho cảng tái khí hóa, Petronas có vẻ như đang chuẩn bị cho các nhà cung cấp khác thâm nhập thị trường mà họ đã giữ độc quyền trong vòng hơn 4 thập kỷ trong khi vẫn nắm giữ các hợp đồng xuất khẩu của mình tới vùng viễn đông.
“Trong thời gian này, chúng tôi sẽ không giữ độc quyền thêm nữa. Bất kỳ bên nào có thể đem LNG vào và cung cấp khí đốt cho Tenaga Nasional”, Giám đốc điều hành Shamsul Azhar nói.
Reuters