Năm ngoái, thâm hụt thương mại của Nga đạt mức kỷ lục 1,2 tỉ USD, tăng 79% so với năm 2006. Nhập khẩu thuỷ sản theo mã HS 03 (không bao gồm các sản phẩm thuỷ sản đóng hộp và chế biến) đạt 1,7 tỉ USD, tăng 44%. Trong khi đó, xuất khẩu chỉ thu về 517 triệu USD.
Xu hướng này có thể tiếp tục trong các năm tới do thu nhập của người dân Nga tăng lên, tiêu thụ nội địa tăng và thói quen ăn uống có nhiều thay đổi.
Na Uy là nhà cung cấp thuỷ sản lớn nhất cho Nga. Trung Quốc và Việt Nam cũng là những là cung cấp quan trọng cho thị trường này. Uỷ ban Thuỷ sản Nga đang triển khai nhiều dự án phát triển ngành thuỷ sản nội địa nhằm tăng sản lượng và hạ giá thành để phù hợp với cả người tiêu dùng có thu nhập thấp.
Nhập khẩu thuỷ sản của Nga, T1-T12/2005-2007 (đơn vị: triệu USD)
|
HS Codes |
Nhóm sản phẩm |
2005 |
2006 |
2007 |
Tăng, giảm % 2007/2006 |
|
0301 |
Thuỷ sản sống |
1,7 |
2,8 |
5,6 |
99,59 |
|
0302 |
Thuỷ sản tươi (không philê) |
131,2 |
110,1 |
28,7 |
(157,63) |
|
0303 |
Thủy sản đông lạnh (không philê) |
560,5 |
678,6 |
797,4 |
17,50 |
|
0304 |
Các sản phẩm philê và thịt cá khác |
122,2 |
207,6 |
331,6 |
59,72 |
|
0305 |
Cá khô, ướp muối |
27,5 |
47,2 |
51,6 |
9,43 |
|
0306 |
Giáp xác |
80,4 |
118,9 |
189,1 |
59,50 |
|
0307 |
Các sản phẩm thuỷ sản |
27,2 |
39,6 |
72,1 |
82,22 |
|
03 |
Tổng |
950,7 |
1204,9 |
1731,2 |
43,68 |
Nguồn:Vasep